Luận Án Tiến Sĩ: Chuyển Biến Kinh Tế Nông Nghiệp Bắc Trung Kỳ Từ 1884 Đến 1945

Chuyên đề nghiên cứu Chuyển Biến Kinh Tế Nông Nghiệp Bắc Trung Kỳ (1884-1945), cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia kinh tế

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ lịch sử

2007

244
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG KỲ TRƯỚC NĂM 1884

1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội Bắc Trung Kỳ

1.2. Điều kiện tự nhiên

1.3. Điều kiện xã hội

1.4. Vài nét về kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ trước 1884

1.5. Chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn

1.6. Tình hình sở hữu ruộng đất

1.7. Thực trạng canh tác nông nghiệp

1.8. Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG BIẾN ĐỔI BƯỚC ĐẦU TRONG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG KỲ TỪ 1884 ĐẾN 1918

2.1. Điều kiện lịch sử mới

2.2. Thể chế chính trị mới

2.3. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

2.4. Các điều kiện và những tiền đề thúc đẩy sự chuyển biến của nông nghiệp Bắc Trung Kỳ

2.5. Các chính sách hỗ trợ kinh tế nông nghiệp

2.6. Những biến đổi bước đầu của kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ

2.7. Sự phát triển của kinh tế đồn điền

2.8. Biến đổi bước đầu về sở hữu sản xuất và tổ chức sản xuất

2.9. Biến đổi bước đầu về cơ cấu và canh tác nông nghiệp

3. CHƯƠNG 3: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG KỲ TỪ 1919 ĐẾN 1945

3.1. Vài nét về chính sách nông nghiệp của thực dân Pháp sau Thế chiến I

3.2. Mở rộng đầu tư khai thác thuộc địa

3.3. Phát triển hệ thống ngân hàng, tiền tệ

3.4. Phát triển hệ thống thuỷ nông

3.5. Mở rộng các trại thí nghiệm giống

3.6. Các chính sách khuyến nông

3.7. Kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ từ 1919 đến 1945

3.8. Chuyển biến về sở hữu ruộng đất

3.9. Chuyển biến trong quan hệ sản xuất

3.10. Chuyển biến trong cơ cấu nông nghiệp

3.11. Chuyển biến về kỹ thuật nông nghiệp

3.12. Chuyển biến trong canh tác nông nghiệp

4. CHƯƠNG 4: XÃ HỘI NÔNG THÔN BẮC TRUNG KỲ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG CHUYỂN BIẾN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

4.1. Sự chuyển biến của các nghề thủ công truyền thống

4.2. Sự biến động về dân cư và mở mang địa bàn cư trú

4.3. Sự gia tăng dân số và các luồng di dân

4.4. Mở mang địa bàn cư trú

4.5. Sự phân hoá giai cấp của xã hội nông thôn Bắc Trung Kỳ

4.6. Sự phân hoá của giai cấp nông dân

4.7. Sự phân hoá của giai cấp địa chủ

4.8. Đời sống của nông dân Bắc Trung Kỳ

4.9. Thu nhập của nông dân

4.10. Những mối đe doạ đến cuộc sống nông dân

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ trước năm 1884

Trước năm 1884, kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp tự cung tự cấp. Điều kiện tự nhiên và xã hội tại khu vực này đã tạo ra những đặc điểm riêng biệt cho nông thôn Bắc Trung Kỳ. Chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn đã định hình cơ cấu sở hữu ruộng đất và quan hệ sản xuất trong nông nghiệp. Sự phân chia ruộng đất và các hình thức canh tác đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân. Theo tài liệu, chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn đã tạo ra một hệ thống canh tác ổn định nhưng cũng chứa đựng nhiều bất cập. Những yếu tố này đã tạo nền tảng cho sự chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp sau này.

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội

Bắc Trung Kỳ có điều kiện tự nhiên phong phú với đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho việc trồng trọt. Tuy nhiên, xã hội tại đây lại chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính sách cai trị của triều đình. Sự phân hóa giai cấp trong nông thôn diễn ra mạnh mẽ, với sự tồn tại của giai cấp địa chủ và nông dân nghèo. Điều này đã tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp. Theo các nghiên cứu, sự phân hóa này đã dẫn đến những biến động trong quan hệ sản xuất và canh tác, tạo ra những tiền đề cho sự chuyển biến trong giai đoạn sau.

II. Những biến đổi trong kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ từ 1884 đến 1918

Giai đoạn từ 1884 đến 1918 chứng kiến những biến đổi mạnh mẽ trong kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển nông nghiệp. Các chính sách hỗ trợ kinh tế nông nghiệp được thực hiện, thúc đẩy sự chuyển biến trong canh tác và sản xuất. Sự phát triển của kinh tế đồn điền đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Theo tài liệu, sự chuyển biến này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn tác động đến đời sống của người dân. Nông dân phải đối mặt với nhiều thách thức mới, từ việc thay đổi phương thức canh tác đến sự gia tăng áp lực từ giai cấp địa chủ.

2.1. Chính sách khai thác thuộc địa

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo ra một hệ thống nông nghiệp mới, trong đó kinh tế hàng hóa dần thay thế nền nông nghiệp tự cung tự cấp. Các đồn điền được mở rộng, tạo ra nguồn thu lớn cho thực dân. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến sự bần cùng hóa của nông dân. Họ phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, với mức lương thấp và không có quyền lợi. Sự chuyển biến này đã tạo ra những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội tại Bắc Trung Kỳ.

III. Kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ từ 1919 đến 1945

Giai đoạn từ 1919 đến 1945, kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ tiếp tục có những biến đổi lớn. Chính sách nông nghiệp của thực dân Pháp sau Thế chiến I đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nông dân. Hệ thống ngân hàng và tiền tệ được phát triển, tạo điều kiện cho việc đầu tư vào nông nghiệp. Tuy nhiên, sự phân hóa giai cấp trong nông thôn ngày càng sâu sắc. Nông dân nghèo vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn lực sản xuất. Theo các nghiên cứu, sự chuyển biến này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn tác động đến đời sống của người dân, tạo ra những mâu thuẫn xã hội mới.

3.1. Chính sách nông nghiệp sau Thế chiến I

Sau Thế chiến I, thực dân Pháp đã mở rộng đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy nông và khuyến nông. Các chính sách này nhằm tăng cường sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến sự gia tăng áp lực lên nông dân, khi họ phải làm việc trong điều kiện ngày càng khó khăn. Sự chuyển biến này đã tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội tại Bắc Trung Kỳ.

IV. Tác động của những chuyển biến kinh tế nông nghiệp đến xã hội nông thôn

Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ đã có tác động sâu sắc đến xã hội nông thôn. Sự phát triển của các nghề thủ công truyền thống và sự biến động về dân cư đã tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội. Sự gia tăng dân số và các luồng di dân đã làm thay đổi diện mạo nông thôn. Theo tài liệu, sự phân hóa giai cấp trong xã hội nông thôn ngày càng rõ nét, với sự gia tăng của giai cấp địa chủ và sự bần cùng hóa của nông dân. Điều này đã tạo ra những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội tại Bắc Trung Kỳ.

4.1. Sự phân hóa giai cấp trong xã hội nông thôn

Sự phân hóa giai cấp trong xã hội nông thôn Bắc Trung Kỳ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn này. Giai cấp địa chủ ngày càng gia tăng quyền lực, trong khi nông dân phải đối mặt với nhiều khó khăn. Sự bần cùng hóa của nông dân đã dẫn đến những mâu thuẫn xã hội sâu sắc. Theo các nghiên cứu, sự phân hóa này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn tác động đến tình hình kinh tế xã hội tại Bắc Trung Kỳ. Những mâu thuẫn này đã tạo ra những tiền đề cho các phong trào đấu tranh sau này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung có 4 chương như sau: Chƣơng 1: Vài nét về tình hình kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ trước năm 1884. Chƣơng 2: Những biến đổi bước đầu của kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ từ 1884 đến 1918. Chƣơng 3: Kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ từ 1919 đến 1945. Chƣơng 4: Xã hội nông thôn Bắc Trung Kỳ dưới tác động của những chuyển biến kinh tế nông nghiệp.

17 z CHƢƠNG 1 VÀI NÉT VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG KỲ TRƯỚC NĂM 1884. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội Bắc Trung Kỳ. Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lý, địa hình.

Bắc Trung Kỳ nằm gọn trong vùng nội chí tuyến bán cầu bắc, từ 17 053‟ đến 20030‟ độ vĩ bắc, 106002‟ đến 106030‟ độ kinh đông. Diện tích tự nhiên khoảng 33.670 km2, phía Bắc giáp với các tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Tây giáp Lào và phía Đông giáp biển. Trên một miền đất rộng như vậy, địa hình Bắc Trung Kỳ rất đa dạng, có đủ rừng núi, trung du, đồng bằng và thềm lục địa. Miền núi chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên của khu vực Bắc Trung Kỳ.

Địa hình phức tạp, rừng rậm bao bọc phần lớn địa hình từ Quan Hoá, Lang Chánh, Mường Lát, Như Thanh, Thường Xuân (Thanh Hoá) trải qua Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương, Kỳ Sơn (Nghệ An) đến Hương Sơn, Vụ Quang, Hương Khê, Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Rừng núi có nhiều lâm sản, động vật quý hiếm. Quế Trịnh Vạn, Quế Phong, nhân sâm Biện Thượng, long cốt Vĩnh Lộc, cánh kiến Kỳ Sơn, Tương Dương, trầm hương ở Hương Khê.là những thứ dược liệu, nguyên liệu có tiếng trong vùng. Xen kẽ với rừng rậm là các dãy đồi núi trùng điệp, bao gồm núi đá vôi, đá hoa cương.

Rừng núi Bắc Trung Kỳ có tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, trồng cây nguyên liệu và hương liệu. Miền trung du Bắc Trung Kỳ chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, rõ nét như ở Bắc Kỳ; phân bố rải rác ở Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống (Thanh Hoá), Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương (Nghệ An), Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh). Đây là nơi có tiềm năng để trồng cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Miền đồng bằng Bắc Trung Kỳ gồm đồng bằng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc loại lớn nhất vùng duyên hải Trung Kỳ.

Đồng bằng Thanh Hoá có 18 z diện tích 2.900 km2 được cấu tạo bằng phù sa hiện đại của hệ thống sông Mã bồi đắp, trải ra trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về biển ở phía Đông Nam. Nhiều cánh đồng sâu, những đầm nối tiếp nhau phân bố ở các vùng Nông Cống, Đông Sơn, Thiệu Hoá, Yên Định, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Hà Trung, Nga Sơn. Đồng bằng Nghệ An có diện tích khoảng 1.750 km2 được cấu tạo bằng phù sa biển và phù sa sông Cả, phân bố ở các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên. Đồng bằng Nghệ An có nhiều cát, gò đồi, lèn đá, cồn cát xen kẽ hơn so với Thanh Hoá.

Đồng bằng Hà Tĩnh là chuỗi cánh đồng chạy dài từ Nam sông Cả đến Kỳ Anh, diện tích khoảng 1. Đất ít màu, dễ bị hạn, cát trắng khá nhiều. Vùng Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên có đất phù sa sét là vựa lúa quan trọng của tỉnh. Nhìn chung, đồng bằng Bắc Trung Kỳ độ dốc khá lớn, không bằng phẳng, nhiều vùng trũng, nhiều đồi núi xen kẽ.

So với lưu vực của sông Hồng, sông Cửu Long, đồng bằng nơi đây kém xa về độ màu mỡ nhưng là vựa lúa lớn nhất khu vực Trung Kỳ. Biển ở Bắc TRung Kỳ có trữ lượng cá khá lớn, có tiềm năng để nuôi trồng và khai thác hải sản. Bờ biển có nhiều cửa lạch, thuận tiện cho tàu thuyền qua lại như lạch Sung (Nga Sơn - Hậu Lộc), lạch Trường (Hậu Lộc - Hoằng Hoá), lạch Trào (Hoằng Hóa - Quảng Xương), lạch Ghép (Quảng Xương - Tĩnh Gia), Cửa Lò, Cửa Hội (Nghi Lộc), cửa Sót, Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên - Kỳ Anh). Bắc Trung Kỳ nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam, chung đường biên giới với Lào, đường biển dài hàng trăm km.thuận tiện cho giao thông,thương nghiệp.

Khí hậu Bắc Trung Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, ít mưa, có sương giá, sương muối; mùa hè nóng, mưa nhiều, gió Tây khô nóng. Khí hậu Bắc Trung Kỳ bị chi phối bởi sự tương tác giữa hoàn lưu gió mùa và mặt biển, đồng bằng và các khối núi có hướng khác nhau. Ở đây, có hai mùa gió 19 z thịnh hành: gió Bắc và Đông Bắc vào mùa đông, gió Tây và Tây Nam vào mùa hè.

Sự phức tạp của địa hình kéo theo sự thất thường của khí hậu. Lượng mưa không đều và thay đổi từ năm này sang năm khác: 2m778 năm 1907 và 1m105 năm 1911. Sự thất thường của thời tiết giải thích tính không đều đặn của mùa màng. Lượng mưa trong năm không đều, các tháng 1 và 2 vũ lượng tổng cộng chỉ là 87mm - không đủ cho canh tác nông nghiệp, nhất là cấy lúa.

Trong các tháng 7,8,9 (những tháng quan trọng của vụ lúa tháng 10) lượng nước mưa cũng không đều đặn: 55mm tháng 7 năm 1902 và 467 mm tháng 7 năm 1912, 18mm tháng 8 năm 1906 và 372 tháng 8 năm 1908, 12mm tháng 9 năm 1902 và 809mm tháng 9 năm 1910. Lượng mưa trung bình và ngày mưa trung bình tại một số địa điểm quan trắc ở Bắc Trung Kỳ được thống kê trong bảng 1.1: Lƣợng mƣa ở Bắc Trung Kỳ từ 1927 đến 1946 (tính bằng mm) Địa điểm Thời kỳ Lương Lượng Lượng Số ngày Số ngày Số ngày mưa TB mưa TB mưacả mưa TB mưa TB mưacả năm thấp nhất cao nhất năm thấp nhất cao nhất Cao Trại 1927-1941 9 329 1463 9 13 96 Thanh Hoá 1907-1946 28 365 1721 7 15 135 Vinh 1907-1946 47 428 1885 7 14 135 Nguồn: Dẫn theo Đỗ Đình Cương. Khí hậu Việt Nam, Sài Gòn 1964, phần phụ lục. Nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng 24,4 độ (Thanh Hoá), 24,6 độ (Vinh) nhưng có sự chênh lệch khá lớn giữa hai mùa nóng, lạnh.

Nhiệt độ vào mùa đông khoảng 17-18 độ và mùa hè là 29-32 độ, có khi nhiệt độ hạ xuống 8-9 độ vào mùa đông và lên tới 39-40 độ vào mùa hè. Nhiệt độ trung bình ở Bắc Trung Kỳ cao hơn ở Bắc Kỳ, do sự chênh lệch của 3 tháng nóng là tháng 5,6,7. Trong mùa hè, Bắc Trung Kỳ phải chịu tác động của gió phơn Tây Nam (gió Lào thổi từ lục địa, vượt qua dãy Trường Sơn, để lại hơi ẩm phía Tây, đem hơi nóng tới phía Đông). Gió Lào thường thổi từng đợt từ tháng 5 đến tháng 6, khiến cho cây trồng khô héo, sinh trưởng bị cản trở.

20 z Bắc Trung Kỳ hàng năm phải chịu nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt. Những cơn bão nhiệt đới từ biển thường đổ bộ vào tháng 9, tháng 10 đem theo sức tàn phá khủng khiếp. Vùng chiêm trũng và ven biển khốn khổ vì lũ lụt, nước mưa dâng cao kết hợp với triều cường cuốn trôi mùa màng. Vùng đất cao thì lũ quét, lở đất luôn đe doạ đến cuộc sống và canh tác nông nghiệp của người dân.

Khí hậu Bắc Trung Kỳ có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, đặc biệt là miền núi Thanh Hoá và Nghệ An. Vào mùa đông, ở các vùng Quan Hoá, Lang Chánh, Mường Lát, Quỳ Châu, Quế Phong, Kỳ Sơn, Tương Dương nhiệt độ xuống thấp, xuất hiện sương giá, băng giá. Khí hậu cũng có sự khác nhau giữa vùng rừng núi, đồng bằng ven biển. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiều tiểu vùng khí hậu, các tỉnh Bắc Trung Kỳ có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng.

Bên cạnh những sản phẩm nhiệt đới, nông nghiệp ở đây còn có sản phẩm cận nhiệt và ôn đới. Sự phân mùa và phân hoá khác nhau của khí hậu trên từng vùng tạo khả năng hình thành một cơ cấu mùa vụ thích hợp, đem lại các sản phẩm đa dạng cho từng mùa, từng vùng. Tuy nhiên, thời tiết ở Bắc Trung Kỳ rất khắc nghiệt: nắng nóng, mưa không đều, gió Lào khô nóng, bão lụt, hạn hán thường xuyên xẩy ra. Do vậy, công tác trị thuỷ, thuỷ lợi, dẫn thuỷ nhập điền có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất nông nghiệp.

Thổ nhưỡng. Đồng bằng Bắc Trung Kỳ có nhiều loại đất khác nhau: đất cái, đất thịt, đất thịt pha, đất cát, đất cát pha, đát chua, đất mặn. "Đất cáí” là thứ đất sét, chắc, dẻo, ói nước, kết thành tảng rất khó làm khi đã khô. Loại đất này dính chặt với lưỡi cày và làm cho đường cày rất vất vả, chỉ cày bừa được khi ngập nước, khi khô rắn thì chỉ có thể cuốc bằng tay.

Lúa là loại cây duy nhất có thể trồng trọt ở đất này. Đồng trũng, thấp hoặc có nước tưới thì có thể làm hai vụ lúa; đồng cao không giữ được nước chỉ làm được một vụ mà 21 z thôi. Đất này phân bố ở Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Thiệu Hoá(Thanh Hoá), Đô Lương, Yên Thành (Nghệ An). "Đất thịt” là loại đất phù sa tích tụ, hàm lượng sét ít hơn đất cái, độ cứng của đất vừa phải và việc canh tác đỡ vất vả hơn.

Ngoài lúa, đất này còn có thể trồng các loại khoai lang, thuốc lá, đậu, bông. “Đất thịt pha” còn gọi là đất màu, là loại đất phù sa khá tốt, rất dễ cày bừa dù khô hay ngập nước. Đất này có thể trồng lúa vào mùa thu và trồng cây hoa màu vào mùa xuân. Thích hợp với đất này là các cây như bông, vừng, đậu, ngô, khoai lang; đặc biệt rất tốt đối với mía, trầu không.

Đất thịt, đất thịt pha chiếm diện tích chủ yếu của đồng bằng Bắc Trung Kỳ, phân bố ở Nông Cống, Triệu Sơn, Thiệu Hoá, Yên Định, Đông Sơn (Thanh Hoá) Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên (Nghệ An), Đức Thọ, Can Lộc, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). "Đất cát pha” còn gọi là đất bãi, các loại cát chiếm đại bộ phận. Đất đai có nguồn gốc khác nhau, hoặc là do núi non lân cận bị bào mòn như trường hợp cánh đồng Tân Lương ở chân núi Viên Sơn (Thanh Hoá), hoặc là do đất tích tụ hai bên bờ các con sông. Ngoài trồng lúa, đất cát pha còn được dùng để trồng các loại ngô, lạc, khoai, đậu, vừng.

Chiếm một diện tích lớn là loại đất cát ven biển, phân bố dọc duyên hải từ Nga Sơn (Thanh Hoá) cho đến Kỳ Anh (Hà Tĩnh).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ: Chuyển Biến Kinh Tế Nông Nghiệp Bắc Trung Kỳ Từ 1884 Đến 1945" của tác giả Trần Vũ Tài, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, tập trung vào những biến đổi quan trọng trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp tại Bắc Trung Kỳ trong khoảng thời gian từ 1884 đến 1945. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển biến này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà các chính sách và điều kiện xã hội đã tác động đến nền nông nghiệp trong giai đoạn này, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về lịch sử kinh tế Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp những phương pháp tổ chức và quản lý trong nông nghiệp, hay Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh, một nghiên cứu về phát triển nông thôn hiện đại. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án Tiến sĩ về Kinh tế Nông nghiệp tại TP.HCM trong 30 Năm Đổi Mới (1986-2015), để có cái nhìn tổng quan hơn về sự phát triển nông nghiệp trong bối cảnh đổi mới của Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích về lĩnh vực nông nghiệp.