Chương 1: Khung lý thuyết xây dựng chương trình đào tạo giảng viên nguồn. Chương 2: Xây dựng chương trình đào tạo giảng viên nguồn vềQuản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Chương 3: Một số kiến nghị triển khaichương trình đào tạo giảng viên nguồn Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. 8 8 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN NGUỒN 1.
Chƣơng trình đào tạo giảng viên nguồn 1. Đào tạo và giảng viên nguồn 1. Đào tạo Theo từ điển Tiếng Việt, đào tạo được hiểu là “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng thực hiện một sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”. Tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản Trị Nhân Lực xuất bản năm 2004 cho rằng “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ hiệu quả hơn trong công tác của họ”.
Với khái niệm này, đào tạo cung cấp cho người lao động các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp họ có thể thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ trong công việc của mình. Ngoài những kiến thức họ đã có sẵn, đào tạo là bổ sung những gì họ còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh kiến thức kỹ năng để họ đáp ứng được tốt yêu cầu của công việc. Kết hợp hai cách hiểu trên về đào tạo, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm đào tạo trong luận văn như sau:Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Phân biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng: Hiện nay, theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam có sử dụng hai thuật ngữ “đào tạo” và “bồi dưỡng” cũng cho thấy các nội hàm khác nhau trên cả trên bình diện cấu tạo từ và cú pháp - ngữ nghĩa.
9 Chẳng hạn: Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về đào tạo và bồi dưỡng như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”. “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể mà quá trình truyền đạt này phải là một quy trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết làm rõ, nhưng năng lực và kiến thức đầu ra (sau quá trình truyền đạt, dạy và học) phải được qui chuẩn và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được.
Sự chuyển biến về chất lượng năng lực và kiến thức của đối tượng được đào tạo sau khi trải qua một qui trình dạy và học để có thể đảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học. Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức, kỹ năng nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của người học, mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ. Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau – như đã giải thích trên đây, nhưng lại có cùng một mục đích chung làm cho người lao động có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác được tốt hơn. Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia thành đào tạo hoặc bồi dưỡng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau.
Với cách hiểu như vậy, trong đề tài này tác giả sẽ sử dụng sử dụng thuật ngữ đào tạo và bồi dưỡng là một. Đào tạo và bồi dưỡng chính là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào 10 tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một đối tượng học tập. Thông qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, đối tượng được học tập có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp nhất định và đồng thời làm cho họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có để phát huy hết năng lực làm việc của họ. Giảng viên nguồn Từ những tài liệu tổng quan nghiên cứu, tác giả đưa ra nhận định về khái niệm giảng viên nguồn như sau: “Giảng viên nguồn là người được đào tạo về kỹ năng giảng dạy, khả năng thúc đẩyvà kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và phân cấp đào tạo cho các cán bộ khác nhằm phát triển, củng cố thêm chuyên môn cho người được đào tạo về lĩnh vực làm việc của mình.” Nhiệm vụ của giảng viên nguồn: Giảng viên nguồn có hai nhiệm vụ chính: một là, nâng cao kiến thức kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp.
Hai là, phân cấp đào tạo cho các cán bộ khác nhằm phát triển, củng cố thêm chuyên môn cho người được đào tạo về lĩnh vực làm việc của mình. Yêu cầu năng lực của giảng viên nguồn: Yêu cầu năng lực đối với đào tạo giảng viên nguồn là sự công khai hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá nhằm bảo đảm và khẳng định về chất lượng đào tạo cả về về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và đảm nhiệm vai trò là giảng viên nguồn cần đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo; đảm bảo cho họ thực hiện được nhiệm vụ giảng dạy và đào tạo của mình. Yêu cầu năng lực giảng viên nguồn là cơ sở để xây dựng chương trình, thiết kế nội dung và tổ chức các hoạt động đào tạo và cam kết về chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo đó. Xuất phát từ nhiệm vụ nêu trên, giảng viên nguồn có ba yêu cầu chính về năng lực, đó là: năng lực chuyên môn, kỹ năng thiết kế đào tạo và kỹ năng thúc đẩy.
11 Năng lực chuyên môn: là khả năng hiểu biết sâu sắc về một lĩnh vực chuyên môn cụ thể và có thể truyền tải, hướng dẫn chuyên môn đó cho những người khác. Giảng viên nguồn phải là người có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trong hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp. Sau khi hoàn thành khóa học phải có sự am hiểu sâu sắc các kiến thức đã được cung cấp một cách tổng hợp, bài bản, đầy đủ và có kỹ năng thực hành, áp dụng và vận dụng sáng tạo vào thực tế. Biểu hiện của năng lực chuyên môn thông qua việc có hiểu biết sâu sắc về chuyên môn và có thể tự tin để trả lời chính xác câu hỏi về chuyên môn của người khác.
Kỹ năng thúc đẩy: được định nghĩa là có khả năng vận dụng các phương pháp, kỹ năng sư phạm, giao tiếp để khuyến khích động viên người học tham gia tích cực trong khóa đào tạo. Biểu hiện của năng lực thúc đẩy trên lớp bao gồm các khía cạnh sau: biết tạo ra một môi trường học tập thoải mái trên lớp, với quan niệm cơ bản là “lấy học viên làm trung tâm” trong giảng dạy; biết quan sát, lắng nghe, đặt câu hỏi để lôi kéo sự tham gia của học viên, khai thác kinh nghiệm và kiến thức thực tế của học viên; biết sử dụng các công cụ trực quan sinh động trong giảng dạy; biết tổ chức thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, giải quyết xung đột và các tình huống khó trên lớp; có khả năng tổng hợp ý kiến và quản lý lớp học. Kỹ năng thiết kế đào tạo(đối với giảng viên nguồn): được định nghĩa là có khả năng thiết kếkế hoạch bài giảng một cách logic hệ thống nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Biểu hiện của năng lực thiết kế đào tạo bao gồm các khía cạnh sau: có khả năng đánh giá được nhu cầu đào tạo, xây dựng được mục tiêu bài giảng, thiết kế nội dung và phương pháp thực hiện, xây dựng tài liệu và dụng cụ phù hợp.
Các cấp độ biểu hiện của năng lực chuyên môn, năng lực thúc đẩy và năng lực thiết kế đào tạo được trình bày trongkhung năng lực giảng viên nguồn.1: Khung năng lực của giảng viên nguồn thiết kế dưới đây, song chỉ tập trung vào hai năng lực chính là kỹ năng thúc đẩy và kỹ năng thiết kế đào tạo vì năng lực chuyên môn cần được cụ thể hoá theo từng khoá học, từng lĩnh vực chuyên môn được xác định theo nhu cầu cụ thể của từng khóa đào tạo.1: Khung năng lực giảng viên nguồn Mức 1: Mức 2: Mức 3: Mức 4: Mức 5: Cá nhân gần như chưa Cá nhân đạt mức 3, đồng thời Cá nhân có khả năng thay đổi,có Cá nhân hành động, làm Cá nhân hành động, làm việc có có kinh nghiệm, kiến nhìn nhận và hành động một sáng kiến cải tiến hiện tại cho phù Năng lực thức.