Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản 1. Khái niệm chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản Để có thể đưa ra được một khái niệm khoa học, đầy đủ và có tính chính xác về “chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản”, trước hết, cần thiết phải làm rõ một số khái niệm gần kề, có liên quan như: “chứng minh”, “chứng minh tội phạm”, “vụ án”, “điều tra vụ án”, “tội tham ô tài sản”… Chứng minh là một trong những hoạt động thực tiễn của con người, nó diễn ra trong tất cả các mặt của đời sống xã hội. Chứng minh theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (1996), NXB Giáo dục Hà Nội được hiểu là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [47, tr.
Hoặc theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1999), NXB Hà Nội thì chứng minh là “Quá trình tư duy sử dụng nhiều lý lẽ khác nhau, gọi là lý luận cứ để bảo vệ cho sự đúng đắn của một hay nhiều tư tưởng khác nhau gọi là luận đề” [33, tr. Hay theo Từ điển Tiếng Việt (2006) của Viện ngôn ngữ học Đà Nẵng thì “Chứng minh là làm cho thấy rõ là có sự thật, là đúng, bằng những việc hay lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng” [45, tr. Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh cụ thể như sau: “Chứng minh là hoạt động của con người để nhận thức sự thật khách quan về một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó thông qua các thông tin, tài liệu được thu thập, kiểm tra, đánh giá tính chân lý”. Như vậy, có thể hiểu rằng “chứng minh” là hoạt động nhận thức, tư duy, lý luận của con người để làm sáng tỏ một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó với một mục đích nhất định, nhằm xác định tính đúng, sai của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở những bằng chứng, chứng cứ cụ thể.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (1999), trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân thì “Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra, đánh 8 n giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [36, tr. Theo GS, TS. Võ Khánh Vinh, trong phần bình luận Điều 65 BLTTHS năm 2003 có đưa ra khái niệm về chứng minh là “quá trình nhận thức về vụ án hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện” [46, tr. Như vậy, có thể hiểu rằng chứng minh trong TTHS là một hoạt động của chứng minh nói chung, diễn ra trong phạm vi cụ thể là hoạt động hình sự.
Trong phạm vi này, chứng minh là nhằm để làm rõ hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi có liên quan đến một vụ án cụ thể đã xảy ra trên thực tế nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Chứng minh trong TTHS là một công việc phức tạp vì các cơ quan THTT và người THTT phải áp dụng mọi biện pháp để chứng minh sự thật của vụ án. Các vụ án đã xảy ra sẽ đều để lại những hình ảnh khách quan mà qua đó con người có thể nhìn nhận, đánh giá những hình ảnh đó bằng chính tư duy, lý luận của mình. Từ những tư duy, lý luận đó, giúp cho những người THTT tìm ra được sự thật của vụ án thông qua hoạt động chứng minh khi điều tra vụ án.
Theo tác giả, quá trình chứng minh phải tuân thủ các quy luật chung của quá trình nhận thức khách quan cũng như các nguyên tắc như: khách quan, toàn diện. Chứng minh trong TTHS là việc làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng này với những sự vật, hiện tượng khác có trong vụ án hình sự. Từ đó, có thể hiểu rằng quá trình chứng minh trong TTHS là quá trình tư duy và thực tiễn của cơ quan có thẩm quyền THTT dựa trên những quy định của pháp luật TTHS để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng những tài liệu, thông tin thu thập được để xác định sự thật khách quan của vụ án nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Theo Từ điển luật học (2006), Nxb Tư pháp thì vụ án hiểu là “một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [37, tr.
Cơ sở pháp lý để có thể bắt đầu chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là từ khi có quyết định khởi tố vụ án (trừ trường hợp cần thu thập chứng cứ trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tạm giữ phương tiện, khám xét…). 9 n Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam (2018) của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân: “Điều tra vụ án là một giai đoạn, trong đó Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh để ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra và ra các quyết định khác theo quy định của pháp luật” [35, tr. Theo Từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp thì “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ” [37, tr. Hoạt động điều tra bao gồm nhiều hành vi tố tụng khác nhau của cơ quan THTT, bao gồm nhiều hành vi tố tụng đặc trưng như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, hỏi cung bị can, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đối chất, nhận dạng… nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong điều tra vụ án hình sự.
Với tính chất của giai đoạn điều tra vụ án hình sự làm cho việc chứng minh trong giai đoạn này có nhiều điểm khác biệt mà không có giai đoạn nào có thể thay thế được. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu chứng minh trong điều tra vụ án hình sự như sau: chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động của những cơ quan, những người có thẩm quyền THTT theo quy định của pháp luật TTHS được thực hiện chủ yếu ở giai đoạn điều tra vụ án thông qua quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm để làm sáng tỏ các tình tiết, các sự vật, hiện tượng, sự kiện đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền THTT ban hành các quyết định tố tụng phù hợp và đúng với quy định của pháp luật góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tránh làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm. Tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353, Mục 1, Chương XXIII BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung là BLHS năm 2015). Dựa vào khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành có thể đưa ra khái niệm về tội tham ô tài sản như sau: Tội tham ô tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách 10 n nhiệm quản lý xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được phân tích ở trên cùng với quy định của pháp luật có liên quan, tác giả đưa ra khái niệm về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản như sau: Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành áp dụng các biện pháp, phương tiện hợp pháp để thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án ở các giai đoạn tiếp theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, giúp giải quyết vụ án đúng các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự. Đặc điểm của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản Chứng cứ và chứng minh là xương sống của pháp luật tố tụng nói chung, trong đó có pháp luật tố tụng dân sự, hành chính và hình sự. Mọi hoạt động tố tụng đều hướng tới tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Xuất phát từ đặc điểm của loại án dân sự, hành chính, hình sự cho thấy, chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính và vụ án hình sự cũng sẽ có những đặc điểm khác nhau được quy định cụ thể tại luật tố tụng chuyên ngành.
Như vậy, trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc giao nộp chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu trong các vụ, việc dân sự, hành chính vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các đương sự, người khởi kiện… để bảo vệ yêu cầu của mình. Các cơ quan THTT (cụ thể là Tòa án, Viện kiểm sát) chỉ thu thập chứng cứ trong một số trường hợp cụ thể. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự, hành chính theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ, việc. Bộ luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính không quy định đối tượng cần phải chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính mà chỉ quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.