Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1. Vi phạm hành chính và chính sách xử phạt vi phạm hành chính 1. Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính 1. Vi phạm hành chính[A1] Trong thực tế đời sống xã hội, các vi phạm pháp luật diễn ra thường xuyên, phổ biến, đa dạng trên tất cả các lĩnh vực quản lý của nhà nước.
Căn cứ vào khách thể bị xâm phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, khoa học pháp lý phân chia vi phạm pháp luật thành 04 loại: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm kỷ luật và vi phạm pháp luật dân sự. Trong quy định của pháp luật, thuật ngữ vi phạm hành chính lần đầu tiên được giải thích ở Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Theo đó: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính". Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 không giải thích thuật ngữ vi phạm hành chính trực tiếp mà quy định một cách gián tiếp thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”.
Khái niệm vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó "Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính".[14] 7 Luan van Khái niệm về vi phạm hành chính trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản, đó là tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Cũng như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính được cấu thành bởi 4 yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể [38]. Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, bao gồm các yếu tố[A2]: Thứ nhất, hành vi trái pháp luật hành chính. Hành vi trái pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện).
Nếu không có hành vi trái pháp luật hành chính của chủ thể thì không thể có cấu thành vi phạm hành chính [38]. Thứ hai, hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội). Hành vi trái pháp luật hành chính ở những mức độ khác nhau đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thể gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính được đánh giá, xác định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra [38].
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra. Điều này thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra. Trong một vi phạm hành chính cụ thể chủ thể chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả là điều hết sức cần thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không [38].
8 Luan van Thứ tư, các yếu tố thời gian thực hiện vi phạm hành chính; địa điểm thực hiện vi phạm hành chính; phương thức, thủ đoạn thực hiện vi phạm hành chính; công cụ, phương tiện dùng để thực hiện vi phạm hành chính… [38] Trong các yếu tố nêu trên, thì hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt khách quan của vi phạm hành chính; các yếu tố còn lại có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi, bao gồm các yếu tố[A3]: Thứ nhất, yếu tố lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [38].
Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [38]. Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra [38]. Thứ hai, yếu tố mục đích. Mục đích là cái “mốc”, là kết quả cuối cùng trong suy nghĩ mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm.
Mục đích vi phạm cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi. Trong các yếu tố nêu trên, thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính; yếu tố mục đích có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc phải có [38]. 9 Luan van Chủ thể vi phạm hành chính: là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính.
Đối với cá nhân phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu không đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì có thể kết luận không có vi phạm hành chính xảy ra [38]. Đối với tổ chức gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước [38].
Khách thể vi phạm hành chính[A4]: là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ [28]. Trong khoa học pháp lý, dựa vào các dấu hiệu cấu thành chúng ta có thể phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm nhưng trong thực tế ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm khó xác định. Nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề này thì dẫn đến việc áp dụng pháp luật để xử lý hành vi vi phạm không chính xác.
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác xử lý vi phạm hành chính, việc phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm dựa vào các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính và tội phạm, cụ thể[A5] [36]: Thứ nhất, mặt khách quan: Xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm hình sự (đây là dấu hiệu cơ bản nhất). 10 Luan van Các căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm bao gồm: Về mức độ thiệt hại: Đối với một số loại tội phạm, Bộ luật hình sự quy định mức độ gây thiệt hại cho xã hội của hành vi. Mức độ gây thiệt hại biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: Giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ thương tật… Căn cứ vào các dấu hiệu này, có thể phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm. Ví dụ: Đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trị giá từ 20.000 trở lên tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); nếu tài sản có giá trị dưới 20.000 đồng (ít nghiêm trọng hơn) thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Về số lần vi phạm: Nhiều trường hợp bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi đã thực hiện (hoặc các hành vi khác có tính chất tương tự). Trong những trường hợp này, nếu chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định một cách chính xác đó là tội phạm hay vi phạm hành chính mà phải căn cứ vào dấu hiệu số lần thực hiện hành vi vi phạm. Về công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm: Đây cũng được coi là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.