CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, vai trò của thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 1. Khái niệm thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật 1. Khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì: "Tuyên truyền" khái niệm để rộng, có ý nghĩa miêu tả hoạt động truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra [4,tr16].
Tuyên truyền là phổ biến chính là quá trình cung cấp, cập nhật thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật mới, hoặc được sửa đổi bổ sung để giúp nhân dân nắm bắt, hiểu, tuân thủ chấp hành những quy định mới, hoặc sửa đổi bổ sung đó. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống. Bởi lẽ, khi pháp luật có hiệu lực thì cần phải có đội ngũ truyền tải, phương tiện truyền tải, và các nội dung đó phải được cụ thể hóa, tồn tại dưới các hình thức văn bản cụ thể: bản giấy, bản điện tử. để nhân dân đọc, hiểu, tiếp thu, tuân thủ …Như vậy, pháp luật mới đi vào cuộc sống.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì "Phổ biến là hoạt động truyền đạt trực tiếp hoặc một hình thức cụ thể nào đó làm cho nhiều người biết đến một vấn đề cụ thể nào đó" [4, tr3]. Hoạt động TTPBGDPL là việc các chủ thể (Cấp ủy chính quyền địa phương; các cơ quan chuyên môn; các tổ chức chính trị - xã hội.) có trách 8 n nhiệm dùng các phương tiện, hình thức khác nhau truyền đạt tới đối tượng quản lý nhằm cung cấp thường xuyên, bài bản, hệ thống để giúp cho đối tượng có những nhận thức đầy đủ hơn, trên cơ sở đó thực hiện các hành vi, các ứng xử chuẩn mực hơn. Sử dụng những hình thức khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động một cách có hệ thống, bài bản và thường xuyên đến ý thức của con người nhằm trang bị những kiến thức pháp lý nhất định để từ đó họ có những nhận thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng pháp luật và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Theo nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (Điều 10) thì phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật, bao gồm: (i) Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; (ii) Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; (iii)Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật.
Các chủ thể thực hiện các hoạt động TTPBPL là các cơ quan trong hệ thống cơ quan nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; hệ thống tổ chức chính trị xã hội từ trung ương đến địa phương. Từ cách giải thích của từ điển về hai khái niệm “tuyên tryền” và “phổ biến”, “giáo dục” kết hợp với các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật mà Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đưa ra, có thể khái quát lại khái niệm Tuyên 9 n truyền, phổ biến pháp luật như sau: - Theo nghĩa hẹp: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. - Theo nghĩa rộng: TTPBGDPL là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bởi lẽ nó nâng cao các tri thức pháp luật của cá nhân, tổ chức; từng bước định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp với chuẩn mức đạo đức, chuẩn mực pháp luật chung mà nhà nước, cộng đồng dân cư hướng tới, bảo vệ. Khái niệm chính sách Hiện nay, có nhiều khái niệm về chính sách.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và KH được chủ thể có thẩm quyền đưa ra, thực hiện nhằm đtạ mục tiêu nhất định theo định hướng của chủ thể đó”[27]. Qua các khái niệm trên, có thể thấy, chính sách có những đặc điểm cụ thể: + Chủ thể ban hành chính sách là chủ thể được xác định (Xác định dựa trên Quyền lực hoặc Chủ thể có thẩm quyền Quản lý). + Nội dung của chính sách phải dựa trên quan điểm thống nhất, chung nhất của Đảng cầm quyền; định hướng phát triển; tình hình thực tiễn của địa phương, tổ chức. + Mục đích của chính sách: Chính sách phải có mục đích rõ ràng, cụ thể (có thể định lượng hoặc định tính bởi những thước đo cụ thể).
Do vậy, khi xây dựng kế hoặc thực hiện chính sách; các chủ thể phải căn cứ và lượng tính được thước đo và kết quả đo. 10 n Qua các định nghĩa trên, khái niệm “chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật” được hiểu trong luận văn “Chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật là tập hợp các quyết định có liên quan để lực chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. Khái niệm thực hiện chính sách tuyên truyền, phổ biến pháp luật Thực hiện chính sách TTPBPL là quá trình đưa chính sách TTPBPL vào thực tiễn đời sống thông qua việc ban hành các đề án, chương trình, kế hoạch, dự án. thực hiện chính sách TTPBPL và tổ chức thực hiện các hoạt động cụ thể nhằm đạt được mục tiêu mà các kế hoạch, đề án, chương trình, dự án đề ra.
Các Chương trình, đề án TTPBPL phải được đảm bảo bởi nguồn lực nhất định; phải có sự phân công rõ rằng trong tổ chức và phối hợp thực hiện. * Yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách. Có thể chia làm 2 nhóm yếu tố cụ thể như sau: + Yếu tố khách quan: là các yếu tố bên ngoài, yếu tố mang tính tự nhiên về điều kiện tự nhiên, đất đai, vị trí địa lý. Những yếu tố này tác động đến tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý, các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên ít tạo sự biến đổi do đó cũng khó gây sự chú ý của các nhà quản lý nhưng lại tác động lớn đến quá trình thực thi chính sách, đó là các yếu tố: Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách nó có tác động trực tiếp đến hoạch định và thực hiện chính sách có nghĩa là nếu vấn đề chính sách đơn giản liên quan đến ít đối tượng thì thực thi sẽ dễ dàng và đơn giản hơn.
Môi trường thực thi chính sách tốt để chính sách đạt hiệu quả cáo nhất đó là một môi trường ổn định ít biến đổi về chính trị sẽ đưa tới sự ổn định về 11 n hệ thống chính sách và thực thi thuận lợi. Nếu các bộ phận của môi trườngổn định thì nó sẽ tạo cho các hoạt động thực thi dễ dàng; còn ngược lại nếu Môi trường thực thi chính sách có nhiều bất lợi , như: rào cản của phong tục tập quán lạc hậu; điều kiện tự nhiên. dẫn đến việc thực thi chính sách kém hiệu quả, thậm chí không đạt mục tiêu. Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách: Mỗi đối tượng chính sách có tiềm năng khác nhau, có thế mạnh, lợi thế, thuận lợi và khó khăn khác nhau trong quá trình thực hiện TTPBPL.
Có thể nhìn nhận tiềm lực này qua các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội. Đặc tính của đối tượng chính sách như tính tự giác, kỷ luật, sáng tạo. cũng góp nhiều vào việc hiệu quả hay không trong quá trình thực thi chính sách. + Yếu tố chủ quan: là các yếu tố thuộc về chủ thể thực thi chính sách, cụ thể hơn, đó chính là hệ thống cơ quan thực hiện nhiệm vụ TTPBPL các cấp; đội ngũ cán bộ công chưc, viên chức trong các các cơ quan thực thi nhiệm vụ TTPBP:L.
các chủ thể này là các chủ thể thực thi chính sách nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc hiệu quả thực thi. Thực thi đúng đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách, các bước này được coi là nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc quản lý. Bên cạnh đó phải nói đến vai trò của đội ngũ CBCC, mà cụ thể là đội ngũ thực thi chính sách hay nói cách khác là năng lực thực thi chính sách của CBCC trong hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ướng đến địa phương. Chủ thể giữ vai trò quyết định tới sự thành bại của chính sách, bỏi lẽ: người CBCC tận tâm, có đạo đức công vụ, tâm huyết với nghề nghiệp thì sẽ vượt khó để thực thi còn ngược lại nếu CBCC có năng lực yếu kém, làm việc thiếu khoa học, trách nhiệm; sự thờ ơ của cấp ủy chính quyền; của bàng quang của cán bộ công chức thực thi chính sách.
thì việc thực hi chính sách sẽ gặp nhiều 12 n khó khăn, việc triển khai chính sách sẽ không đem lại hiệu quả như móng muốn. Cùng với yếu tố CBCC thì phải đề cập đến yếu tố tài chính: nguồn vật lực quan trọng để thực thi chính sách. Nguồn tài chính sẽ đảm bảo các hoạt động được triển khai trên thực tiễn; bởi lẽ: Phải trang bị các tài liệu, tư liệu; phải có phương tiện thực hiện, phải có nguồn lực để chi trả nhân công. Do vậy, các điều kiện về tài chính là điều kiện thiết yếu để đảm bảo các hoạt động có thể thực hiện được trên thực tế.