CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO; CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm tôn giáo Qua tìm hiểu, trong lịch sử xã hội loài người có khoảng gần mười nghìn tôn giáo đang tồn tại, về định nghĩa tôn giáo, hiện nay có gần 250 định nghĩa. Theo ḍng lịch sử định nghĩa về tôn giáo được mở rộng về nội hàm và phạm vi của nó; tùy theo mỗi tôn giáo khác nhau, cách tiếp cận và mỗi quốc gia mà nó được hiểu theo nghĩa khác nhau.
Trong Tiếng anh, tôn giáo có nghĩa là religion-có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên, tôn trọng những gì linh thiên, huyền bí, tôn kính thần linh; cho rằng giữa Chúa với Thượng đế có sự gắn bó; thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới khác-một thế giới siêu nhiên, vô hình; sự tồn tại một quyền lực huyền bí bên ngoài mà con người chịu tác động, chi phối đến, một cảm giác đạo mộ mà con người phải tuân theo. Trong tiếng Hy Lạp cho rằng: tôn giáo là regere-quan niệm rằng giữa con người và thế giới thần linh có mối quan hệ, ràng buộc lẫn nhau. Theo từ điển tiếng việt ghi rằng: “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [40, tr. Trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo có định nghĩa: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [20, tr.
Khái niệm Chính sách công Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời 11 sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Khái niệm Chính sách tôn giáo Chính sách tôn giáo ở nước ta được thể hiện ở chủ trương, đường lối của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn giáo. Là quá trình dùng quyền lực của Nhà nước, các cơ quan chức năng liên quan từ trung ương đến địa phương sử dụng nhằm tác động, định hướng, hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo được Nhà nước công nhận hoạt động theo chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đối với tôn giáo. Bên cạnh đó, có thể hiểu chính sách tôn giáo còn là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp nhằm tác động, định hướng, điều chỉnh hoạt động của tôn giáo và hành vi, hoạt động của tổ chức, cá nhân tôn giáo theo quy định của Nhà nước đề ra.
Khái niệm Thực hiện chính sách tôn giáo Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định và thực hiện hóa chính sách để đưa chính sách đi vào đời sống xã hội theo định hướng của Nhà nước. Trên cơ sở khái niệm thực hiện chính sách ta có thể hiểu về thực hiện chính sách tôn giáo là quá trình chuyển hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn giáo, đưa chính sách này đi vào cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của một bộ phận nhân dân; đây là giai đoạn đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng trong chu trình đối với chính sách tôn giáo, là trung tâm kết nối giữa các bước trong chu trình chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Quan điểm của Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ chương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo 1. Quan điểm của Mác-Lênin Chủ nghĩa Mác-Lênin khi nghiên cứu về tôn giáo đều xuất phát từ những ý tưởng có tính phương pháp luận và phương pháp cách mạng (chủ nghĩa duy vật biện chứng) từ đó nhận định rằng tôn giáo có nguồn gốc và bản chất của nó: Về nguồn gốc tôn giáo là một hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng.
Từ phương pháp khoa học lịch sử, với thế giới quan duy vật C.Mác và Ăng ghen đã chỉ ra nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Chính con người sinh ra tôn giáo, chớ tôn giáo không sáng tạo ra con người và tôn giáo quay lại chi phối con người trong cuộc sống đời thường. Mà trong đó con người là thế giới con người - là xã hội loài người, là nhà nước. Ăngghen, trong tác phẩm Chống Duyrinh đã đưa ra lý giải về nguồn gốc tôn giáo, là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.
Như vậy, tôn giáo với tính cách là một hình thái ý thức phản ánh thế giới tự nhiên vào bộ não con người một cách sai lầm hoặc là một sự phản ánh không toàn diện thế giới khách quan, khiến con người hiểu sai hoặc không đầy đủ các hiện tượng trong tự nhiên.Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen cũng đã khẳng định rằng: " Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn của hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" [34, tr. Với cách nhận định này cho thấy tính chất của tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó có chức năng và tính xã hội rất đặc biệt.
Tôn giáo ra đời nhằm bù đắp cho sự nghèo nàn của tri thức để lý giải hiện thực xã hội, thế giới; nguyên nhân là do sự thấp kém của trình độ khoa học kỹ thuật 13 cùng sự bất an, phức tạp của đời sống xã hội. Do đó, con người cần có tôn giáo như một liều thuốc an thần xoa dịu những nỗi đau, những bất hạnh, trắc ẩn trong đời sống thường ngày. Lê-nin trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Mác-Ănghen về tôn giáo, ông đã trình bày chính kiến của mình về tôn giáo: “Nguồn gốc sâu xa nhất của các thành kiến tôn giáo là cùng khổ và dốt nát”, “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn đè nặng lên vai quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động cho người khác hưởng vì phải chịu cảnh bần cùng, cô độc”. Qua đó cho thấy ở thời Mác-Ănghen đã nghiên cứu về bản chất của tôn giáo, đến thời đại Lê nin thì bản chất của tôn giáo là vấn đề trở thành cơ sở để lý giải, giải quyết về vị trí của tôn giáo trong đời sống xã hội; mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, quan điểm của nhà nước mới-xã hội chủ nghĩa về tôn giáo.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, có quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Phạm trù lịch sử của tôn giáo phản ánh ý thức của con người về tồn tại xã hội của hiện thực thời đại mình. Chỗ dựa của tôn giáo là những điều bí ẩn của đời sống hằng ngày không giải thích được và một số hiện tượng mà các nhà khoa học chưa giải thích được. Đối với tôn giáo trong tiến trình phát triển nhận thức của con người, khoa học phát triển và dần cắt nghĩa được một số điểm cho tôn giáo làm chỗ dựa và tồn tại, khoa học phát triển tới đâu, tôn giáo lùi tới đó.
Song thế giới mà con người chúng ta sinh sống là vô cùng vô tận, trong khi nhận thức về thế giới thì có hạn, khoa học đã chứng minh, giải thích được hiện tượng này lại xuất hiện những cái mới, chưa giải thích được. Vì thế tôn giáo luôn có chỗ dựa cùng với sự năng động điều chỉnh theo những tiến bộ của khoa học và biến đổi của xã hội. Đồng thời, hiện thực sự phát triển của tôn giáo trong xã hội hiện đại cho thấy, cơ sở tồn tại và điều kiện tiêu vong của tôn giáo trở nên rất phức tạp. Vì ngày nay con người vẫn chưa giải quyết được một cách triệt để và hợp lý các mối quan hệ đối lập giữa lý tưởng và 14 hiện thực, giữa chủ quan và khách quan, giữa ngẫu nhiên và tất nhiên, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa đau khổ và hạnh phúc,.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, con người vẫn phải đối mặt với những bất hạnh cá nhân, cảm giác thiếu hụt, bất an và mất cân bằng về tâm lý trước tình hình dịch bệnh tràn lan và bệnh tật hiểm nghèo ngày càng tăng, sự chênh lệch giàu nghèo, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống,.Đó là những cơ sở để cho tôn giáo tiếp tục tồn tại và phát triển. Cùng với tiến trình lịch sử của con người, tôn giáo được sinh ra, tồn tại và mất đi khi nền tảng cho sự tồn tại của nó không còn. Đó là cả một tiến trình lâu dài trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Sinh thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác tôn giáo, trên cơ sở kế thừa về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin về tôn giáo, Người đã vận dụng một cách linh hoạt vào đặc điểm, điều kiện lịch sử của Việt Nam, Người đã xây dựng nên hệ thống quan điểm về tôn giáo rất phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo.
Trong các tư tưởng của Người về tôn giáo thì tư tưởng Đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là tư tưởng nổi bật nhất, chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống di sản lý luận mà Người để lại cho đất nước. Tư tưởng này được xây dựng trên đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam là các tôn giáo luôn đoàn kết, chấp hành tốt chính sách của nhà nước, là đất nước không có xung đột, chiến tranh tôn giáo như một số quốc gia trên thế giới.