đặt vấn đề lợi ích kinh tế-xã hội lên hàng đầu và kinh tế đóng vai trò quyết định sức mạnh, vị thế của Mỹ trên trƣờng quốc tế, do đó chính sách thƣơng mại là một trong những ƣu tiên, trụ cột tác động mạnh mẽ đến việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ. Yếu tố tác động đến việc triển khai chính sách thƣơng mại của Mỹ đối với Trung Quốc dƣới thời Tổng thống Donald Trump 1. Các yếu tố nội bộ 1. Tình trạng kinh tế Mỹ Nội tại nền kinh tế Mỹ tiềm ẩn và đối mặt với nhiều khó khăn, thậm chí có dấu hiệu báo trƣớc suy thoái, cụ thể: Thứ nhất, thị trƣờng chứng khoán tăng liên tục, đánh dấu giai đoạn tăng (bull market) dài nhất trong lịch sử kinh tế Mỹ khiến giới đầu tƣ bắt đầu đƣa ra cảnh báo về nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế sắp diễn ra.
Các chu kỳ tăng giá dài nhất của thị trƣờng chứng khoán Mỹ bao gồm: Giai đoạn bùng nổ sau Chiến tranh Thế giới thứ II (1950-1958); giai đoạn phát triển mạnh trong thập niên 70 (1973-1979), kéo dài 06 năm; tăng trƣởng mạnh thời kỳ Tổng thống Ronald Reagan cầm quyền (1983-1988), kéo dài 05 năm; thời kỳ đƣợc gọi là “Sự tăng trƣởng vĩ đại” (1991-2000), kéo dài 10 năm; “Thập kỷ tăng trƣởng nóng” (2002-2007), kéo dài 05 năm. Từ năm 2009 đến nay, thị trƣởng chứng khoán Mỹ đang trong đà tăng hậu khủng hoảng, đã kéo dài trên 10 năm và đánh dấu chu kỳ tăng liên tục dài nhất lịch sử kinh tế Mỹ. 16 Thứ hai, tỷ lệ thất nghiệp thấp kỷ lục và lƣơng cơ bản tăng tạo niềm tin cho ngƣời tiêu dùng những áp lực trả lƣơng và yếu tố thúc đẩy lạm phát ngày càng lớn đồng thời tạo nhiều thách thức đối với đà tăng trƣởng của doanh nghiệp. Thứ ba, đƣờng cong lợi suất (Yield Curve) của trái phiếu Mỹ" đã đảo ngƣợc là tín hiệu cảnh báo giới đầu tƣ về nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế trong 12-18 tháng tới, với tỷ lệ dự bảo đúng 100% trong vòng 10 năm qua.
Thứ tư, trong khi FED và các ngân hàng trung ƣơng lớn khác trên thế giới tăng lãi suất và đảo ngƣợc chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm hạ nhiệt tăng trƣởng kinh tế, Tổng thống Trump lại muốn FED dừng, thậm chí hạ lãi suất trở lại để kích thích kinh tế phát triển và tăng tính cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Mỹ. Thứ năm, thâm hụt thƣơng mại của Mỹ tiếp tục gia tăng bất chấp chính sách bảo hộ từ đầu nhiệm kỳ Tổng thống, lần lƣợt đạt mốc 793 tỷ USD vào năm 2017, 874 tỷ USD vào năm 2018, 984 tỷ USD vào năm 2019 và đạt kỷ lục 3.130 tỷ USD vào năm 2020 do các biện pháp chống Covid-19. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách cũng leo thang chóng mặt, lên tới 16,1% năm 2020, con số lớn nhất kể từ năm 1945-thời kỳ mà nƣớc Mỹ phải chi nhiều khoản khổng lồ cho các hoạt động quân sự nhằm chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai [47]. Kinh tế Mỹ dƣới thời Tổng thống Trump có thể chia làm 2 phần: 3 năm đầu tiên thành công (2017-2019) và năm 2020 bị ảnh hƣởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19: Trong 3 năm đầu nhiệm kỳ của nền kinh tế dƣới thời ông Trump tiếp tục cải thiện, tiếp nối những thành tựu đạt đƣợc trong 2 nhiệm kỳ (8 năm) của Tổng thống Barack Obama.
Theo đó, kinh tế Mỹ tăng trƣởng với tốc độ trung bình 2,5%, đƣợc đánh giá khá vững chắc và ổn định nhƣ thời cựu Tổng thống Obama (Từ giữa năm 2009, GDP nƣớc này tăng trung bình 2,25%/năm). Thị trƣờng lao động có thêm 5,6 triệu việc làm mới đƣợc tạo ra kể từ đầu nhiệm kỳ Tổng thống. Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức thấp nhất trong 5 thập niên qua là 3,5% vào tháng 9. Thu nhập trung bình của các hộ gia đình - chuẩn mực 17 đánh giá chất lƣợng sống - tăng thêm 6.000 USD trong 3 năm đầu nhiệm kỳ của Trump.
Trong suốt hơn 10 năm trƣớc đó, con số này chỉ tăng hơn 250 USD. Tính đến hết năm 2019, quy mô nền kinh tế Mỹ đã tăng 2.700 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với mức gia tăng quy mô dƣới thời Tổng thống Obama (481 tỷ USD) [58]. Tuy nhiên, tất cả những xu hƣớng tích cực này đã đột ngột đảo chiều khi đại dịch lan đến Mỹ đầu năm 2020. Tỷ lệ thất nghiệp có thời điểm lên tới 14,7%.
Và dù số liệu này đã giảm về 6,7% hiện tại, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao gấp đôi so với cuộc khủng hoảng trƣớc. Số ngƣời thất nghiệp hiện nhiều hơn 5 triệu so với đầu nhiệm kỳ của Trump. GDP Mỹ giảm 5% trong quý đầu, sau đó lao dốc tới 31,4% quý II/2020. Nền kinh tế này cũng rơi vào suy thoái về mặt kỹ thuật từ tháng 2.
Đến quý III/2020, GDP Mỹ lại tăng kỷ lục 33,1%. Tuy nhiên, kể cả khi tốc độ hồi phục nhanh hơn dự báo, tăng trƣởng kinh tế năm 2020 giảm 3,5%. Bên cạnh đó, nợ công của Mỹ tăng từ 7.000 tỷ USD lên 27. Thâm hụt ngân sách cho tài khóa kết thúc vào tháng 9/2020 là 3.000 tỷ USD, chủ yếu do các biện pháp chống Covid-19.
Chỉ số S&P 500 đã tăng hơn 70%, tuy nhiên mức tăng này chủ yếu do lãi suất tại Mỹ xuống thấp kỷ lục, khiến nhà đầu tƣ tìm đến chứng khoán để có lợi nhuận cao hơn [58]. Vai trò cá nhân của Tổng thống Donald Trump Theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống chỉ đóng vai trò thứ yếu trong hoạch định chính sách thƣơng mại, quyền hạn của Tổng thống là chỉ đạo nhánh hành pháp thực thi chính sách dƣới sự giám sát của Quốc hội (Điều I, Hiến pháp Mỹ quy định Quốc hội có “quyền áp đặt và thu thuế, lệ phí, thuế nhập khẩu và thuế tiêu dùng, quyền trả nợ quốc gia và cung cấp hệ thống phòng thủ cũng nhƣ dịch vụ xã hội cho nƣớc Mỹ”). Các quyền Quốc hội công khai trao cho cá nhân Tổng thống về lĩnh vực thƣơng mại chỉ bao gồm: (i) Quyền ký ban hành các Luật về thƣơng mại do Quốc hội đƣa ra; (ii) Quyền đại diện Mỹ ký kết các hiệp định, thỏa thuận thƣơng mại; (iii) Quyền cho Tổng thống đàm phán nhanh các Hiệp định thƣơng mại (trong một số trƣờng hợp) nhằm rút ngắn thời gian hoàn thành đàm phán giữa Mỹ và các đối tác nhƣng phải tham vấn 18 Quốc hội. Tuy nhiên, ảnh hƣởng của Tổng thống đối với chính sách đối nội, đối ngoại nói chung và chính sách thƣơng mại Mỹ nói riêng trên thực tế rất lớn, có ý nghĩa vừa định hình, vừa chi phối quá trình triển khai chính sách thƣơng mại Mỹ do: (i) Tổng thống điều hành toàn bộ các cơ quan hành pháp, có quyền bổ nhiệm lãnh đạo của các cơ quan này.
Hoạt động của các cơ quan hành pháp, bao gồm cả việc điều chỉnh hoạt động thƣơng mại bằng hệ thống văn bản dƣới luật nhƣ quy chế (Statute), quy định (Regulation) liên quan vấn đề thƣơng mại chịu ảnh hƣởng từ khuynh hƣớng chính sách của Tổng thống; (ii) Hệ thống văn bản pháp quy về thƣơng mại của Mỹ hiện nay vốn đã trao nhiều quyền hạn cho các cơ quan hành pháp nói chung và cá nhân Tổng thống nói riêng trong xử lý các mâu thuẫn thƣơng mại và điều chỉnh thuế nhập khẩu nhằm bảo vệ quyền lợi của kinh tế Mỹ; (iii) Dù Quốc hội độc quyền làm Luật, nhƣng việc đệ trình các dự luật ra Quốc hội lại thuộc thẩm quyền của các Nghị sỹ là thành viên của các chính đảng tại Mỹ, chịu ảnh hƣởng của “tính đảng” (Partisanship). Tổng thống thƣờng đƣợc các Nghị sỹ cùng chính đảng hỗ trợ, hoặc ít nhất là không chống đối trong đề xuất chính sách (bao gồm cả chính sách thƣơng mại) nhằm củng cố quyền lãnh đạo đất nƣớc của đảng. Do đó, Tổng thống thực chất có ảnh hƣởng chính tới việc hình thành và thông qua pháp luật về hoạt động thƣơng mại, nhất là khi một đảng vừa có thành viên làm Tổng thống, vừa nắm đa số tại các cơ quan lập pháp; (iv) Mô hình “Cộng hòa Tổng thống” của Mỹ trao vai trò lãnh đạo chính quyền và quyền đại diện hình ảnh đất nƣớc (vai trò nguyên thủ quốc gia) vào tay một cá nhân duy nhất là Tổng thống. Do đó, Tổng thống Mỹ ngoài thực quyền trong hệ thống chính trị còn nắm giữ sức hiệu triệu nhân dân Mỹ và có thể thông qua uy tín đối với cử tri gây áp lực xã hội tác động vào quá trình lập pháp của Quốc hội.
Với khẩu hiệu “Làm cho nƣớc Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) và chủ trƣơng “Nƣớc Mỹ trên hết” (America First), ông Trump đã đƣa ra nhiều quan điểm điều chỉnh chính sách thƣơng mại mang tính thực dụng, 19 thiên về chủ nghĩa bảo hộ và có lợi cho nƣớc Mỹ ngay từ khi còn tranh cử Tổng thống. Sau khi đắc cử, nhằm giữ uy tín với cử tri, ông Trump đã đặt trọng tâm chính sách vào thực thi các định hƣớng trên. Ngoài khuynh hƣớng chính sách, cá tính của ông Trump cũng tác động vào quá trình định hình và triển khai chính sách thƣơng mại Mỹ. Một số nghiên cứu về tính cách của ông Trump cho thấy: (i) Về mặt tích cực, ông Trump là ngƣời thích nghi cao, tự tin, có khả năng chịu áp lực tốt, có tham vọng, quảng giao, thẳng thắn, có tính sáng tạo cao, có khả năng ra quyết định nhanh và không bị gò bó vào các chuẩn tắc cứng nhắc; (ii) Về hạn chế, ông Trump có tính hào nhoáng, phù phiếm, thích xây dựng hình ảnh cá nhân, cố chấp, có “cái tôi” quá lớn, không biết lắng nghe ý kiến phản biện, không cẩn trọng trong phát ngôn, thiếu thận trọng trong ra quyết sách, làm việc tùy hứng và có tác phong ƣa thích rủi ro.
Với tính cách trên, chƣa có nhiều kinh nghiệm chính trƣờng cùng lối tƣ duy thuần túy doanh nhân khiến ông Trump trở thành kiểu lãnh đạo dễ gây mâu thuẫn, có các phát ngôn, hành động bộc phát, thích đƣa ra các chính sách cứng rắn, đối đầu, khó lƣờng và mạo hiểm, khiến chính sách thƣơng mại Mỹ trong nhiệm kỳ của ông có nhiều yếu tố “phi chính thống”, vƣợt khỏi các chuẩn tắc “bất thành văn”. Điều này lý giải cách hành xử không theo logic thông thƣờng, không “bẻ đũa từng chiếc” khi Mỹ cùng lúc gây căng thẳng thƣơng mại với hàng loạt nƣớc trên thế giới, không phân biệt đối thủ (Trung Quốc) hay đồng minh (EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Mexico.