CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm, hình thức của đầu tư nước ngoài chính sách đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài Quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ khi con người thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là một hoạt động kinh kế đối ngoại ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Tuy nhiên, từ khi xuất hiên lần đầu tiên trên thế giới vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến nay, hoạt động ĐTNN đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Xu hướng chung là ngày càng tăng lên cả về số lượng, quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư và thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong các Quan hệ kinh tế quốc tế. Có thể hiểu: ĐTNN là một quá trình di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm những mục đích, mục tiêu nhất định. Vốn ở đây phải được hiểu theo nghĩa rông và mục đích, mục tiêu đầu tư là khá đa dạng.
Vốn ĐTNN có thể được biểu hiên dưới nhiều hình thức khác nhau như bằng các loại tiền mặt, đất đai, thiết bị, các sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá. Mục đích chủ yếu của hoạt động ĐTNN là các nhà đầu tư thu được lợi ích về kinh tế. Ngoài ra, lợi ích về chính trị, văn hoá - xã hội cũng được tính đến trong nhiều dự án đầu tư. Theo định nghĩa trong Luật Đầu tư của Viêt Nam: ĐTNN là viêc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Viêt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư (Mục12 - Điều 3 - Luật đầu tư ngày 29-11-2005).
Các hình thức đầu tư nước ngoài ĐTNN được thực hiện bởi các loại hình đầu tư chủ yếu là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) FDI là hình thức đầu tư được hiểu trên nhiều giác độ khác nhau: 7 - Xét về địa lý: Quỹ tiền tề quốc tế (IMF) đã đưa ra định nghĩa về FDI là hình thức đầu tư đem lại lợi ích lâu dài cho một doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh tại một đất nước khác. - Xét trên khía cạnh về quyền sở hữu: FDI là loại hình đầu tư nước ngoài mà quyền sử dụng gắn liền với quyền sở hữu tài sản đầu tư. Để nhận biết một hoạt động đầu tư cụ thể có phải là FDI hay không mỗi nước đều đưa ra tiêu chuẩn xác định riêng.
Ví dụ: phòng Thương Mại của Mỹ xác định: nếu một nhà đầu tư Mỹ nắm giữ ít nhất là 10% cổ phiếu ghi danh hoặc tài sản tương đương của một công ty nước ngoài thì được xác nhận đó là FDI. - Xét trên khía cạnh lưu chuyển tài sản: FDI là sự di chuyển vốn đầu tư từ nước đầu tư sang nước nhận đầu tư. Trong trường hợp này thì các hoạt động đầu tư ở nước ngoài được coi là đầu tư trực tiếp khi (1) công ty trực tiếp sự quản lý tài sản, cổ phiếu; (2) phần vốn đầu tư đó là một phần tài sản của công ty thực hiện đầu tư ở nước nhận đầu tư. - Xét về phạm vi hoạt động: FDI được thực hiện chủ yếu dưới dạng các công ty con hoặc các công ty liên doanh trực thuộc các công ty đa quốc gia.
Do đó, FDI có thể được định nghĩa là sự mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia trên phạm vi quốc tế. Sự mở rộng đó bao gổm sự chuyển giao vốn, công nghệ, các kỹ năng sản xuất và bí quyết quản lý tới nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của dự án đầu tư. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài: - FDI là hình thức chủ yếu trong ĐTNN : xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp quốc tế. - FDI là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiêm về lỗ lãi.
Hình thức này mang tính khả thi và hiêu quả kinh tế cao. 8 - Đây là hình thức chuyển giao lớn về vốn, kỹ năng quản lý và công nghệ. Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển. Các hình thức FDI chủ yếu Theo tiêu chí từ phía nhà đầu tư và nước nhận đầu tư: - Trên giác độ của nhà đầu tư có thể chia FDI thành 3 loại: Đầu tư theo chiều rông: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm đã được sản xuất trong nước của nhà đầu tư.
Các nhà đầu tư sử dụng hình thức đầu tư này để xây dựng các nhà máy sản xuất nhằm cung cấp sản phẩm cho thị trường nước nhận đầu tư. Đầu tư theo chiều sâu: là hình thức đầu tư nhằm sử dụng các nguồn nguyên vật liêu thô để sản xuất sản phẩm cung cấp cho cả thị trường nước nhận đầu tư và nước đầu tư. Đầu tư theo cả chiều rông và chiều sâu. - Trên giác độ của nước nhận đầu tư, FDI có thể phân chia như sau: Đầu tư thay thế nhập khẩu: loại hình đầu tư này nhằm sản xuất các loại hàng hoá mà nước nhận đầu tư thường phải nhập khẩu và chịu ảnh hưởng của dung lượng thị trường nước nhận đầu tư.
Đầu tư phục vụ xuất khẩu: hình thức đầu tư này chủ yếu là sử dụng các loại nguyên vật liêu thô sản xuất sản phẩm để xuất khẩu sang nước của các nhà đầu tư và các nước khác. Xét trên tiêu chí vốn góp và quản lý hoạt động, FDI trên thế giới hiện nay được thực hiện dưới 3 hình thức đầu tư chủ yếu: - Hình thức liên doanh: Hình thức này doanh nghiêp được hình thành do sự góp vốn của các bên thuôc cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Doanh nghiêp liên doanh được thành lập có tư cách pháp nhân trong phạm vi luật pháp của nước chủ nhà. Các bên cùng góp vốn, cùng quản lý điều hành, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chiu rủi ro.
9 - Sử dụng hình thức đầu tư này phía nước nhận đầu tư sẽ thu hút được công nghệ mới, học tập được kinh nghiệm quản lý, có cơ hội xâm nhập thị trường quốc tế. Phía chủ đầu tư sẽ thuận lợi trong viêc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thuận lợi trong việc tiếp thu văn hoá, phong tục, tập quán của nước sở tại và quản lý lao động. - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng: Là hình thức phía nước đầu tư và nước nhận đầu tư sẽ tiến hành ký hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm. Trong hình thức đầu tư này, nhà đầu tư nước ngoài có thể là người cung cấp phần lớn hoặc toàn bộ vốn đầu tư.
Phía nước nhận đầu tư sẽ tham gia đóng góp về đất đai, nhà xưởng hiện có hoặc cũng có thể tham gia góp một phần vốn. - Hình thức doanh nghiêp 100% vốn nước ngoài: Là hình thức chủ đầu tư nước ngoài có thể thành lập, trực tiếp quản lý và điều hành công ty với vốn đầu tư là 100% của chủ đầu tư. Trong hình thức này, nước nhận đầu tư cho phép nhà đầu tư nước ngoài thuê đất, thuê nhân công, đào tạo cán bô quản lý, kỹ thuật và tay nghề cho công nhân, toàn quyền điều hành xí nghiêp, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nước nhận đầu tư. - Ở mỗi nước nhận ĐTNN, đầu tư trực tiếp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuôc khuôn khổ pháp lý của nước đó, tuỳ thuôc lĩnh vực đầu tư và mục tiêu của chủ đầu tư.
Ngoài các hình thức nêu trên, các nước còn cho phép đa dạng hoá các phương thức đầu tư như: - Phương thức Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): Những hình thức này thường được sử dụng đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, công trình công cộng. - Hình thức hợp tác phát triển: Là hình thức hợp tác giữa chủ đầu tư nước ngoài với nước nhận đầu tư nhằm cùng khai thác, sản xuất một số sản phẩm liên quan đến nguồn tài nguyên thiên nhiên như hợp tác về khai thác dầu khí. Đặc điểm của hình thức hợp tác này là các dự án hợp tác thường có độ rủi ro cao, vốn đầu tư lớn và lợi nhuận cao. 10 - Mỗi hình thức FDI đều có mặt mạnh và mặt hạn chế tuỳ theo tình hình thực tế của nhà đầu tư và nước nhận đầu tư.
Vì vậy, người ta đã đa dạng hóa các hình thức đầu tư, nhằm đồng thời giải quyết nhiều vấn đề của mục tiêu hợp tác đầu tư như: kết hợp lợi ích của bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Đặc biệt với bên nhận đầu tư, cần kết hợp thực hiện mục tiêu thu hút vốn với điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp với cơ cấu chung của nền kinh tế và quy hoạch phát triển từng ngành, từng địa phương cũng như cả nước. Đầu tư gián tiếp nước ngoài Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foireign Indirect Investment): Là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng đối với một tài sản đầu tư. Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) gồm: đầu tư dưới hình thức mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác trực tiếp trên thị trường chứng khoán hoặc thông qua các định chế tài chính trung gian như quỹ đầu tư chứng khoán.
Đặc điểm của đẩu tư gián tiếp - Người đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức điều hành dự án đầu tư. Bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ đông hoàn toàn trong kinh doanh. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi tức hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà họ đầu tư vào. - Đầu tư gián tiếp có tính thanh khoản cao.