PHẦN MỞ ĐẦU. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG CÁC QUỐC GIA ASEAN 13 z CHƢƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 1. Khái niệm về di động xã hội Di động xã hội (tiếng Anh: Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội. Theo Đào Thanh Trƣờng (2016), “Di động xã hội đƣợc hiểu nhƣ là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội.
Theo Từ điển xã hội học tiếng Đức của G.Trommsdorff, tính di động (mobility) đƣợc hiểu là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị đƣợc quy định của một hệ thống. Bên cạnh tính di động của các cá thể mang ý nghĩa xã hội học nhƣng xa trọng tâm của các khảo cứu là tính di động bắt nguồn từ các quyết định cá nhân hay tập thể, của những đối tƣợng vật chất và không phải vật chất, nhƣ sự dịch chuyển của các xí nghiệp công nghiệp hay dòng đi và dòng đến của tiền vốn. Di động xã hội đƣợc hiểu nhƣ là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội. Trong khi sự phân chia các đơn vị của những hệ thống không gian và xí nghiệp cũng đƣợc sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày, thì các hệ thống tầng lớp với toàn các đơn vị thành phần thể hiện rõ hơn, các cấu trúc xã hội học, từ các hệ thống hai hoặc ba lớp tới tận các thang bậc uy tín đƣợc phân chia vô cùng tinh vi, trong đó tùy theo chỉ số đƣợc chọn hầu nhƣ mối một phạm trù nghề nghiệp, học vấn hay thu nhập đều chiếm một thứ bậc khác nhau.
Sự chuyển đổi giữa các đơn vị đƣợc đánh giá khác nhau sẽ xuất hiện tính di động theo trục đứng: ở hình thức sự thăng tiến về 14 z xã hội, nếu so với trƣớc đó ngƣời ta chiếm giữ một vị thế cao hơn và ở dạng thụt lùi về xã hội, nếu ngƣời ta giữ một vị thế thấp hơn. Ngƣợc lại, ngƣời ta nói tới tính di động theo chiều ngang, nếu những thay đổi của nghề nghiệp, học vấn thu nhập.không làm thay đổi vị thế. Khái niệm này bắt nguồn từ Sorokin (1927) và theo cách hiểu của ông bao gồm cả mọi loại tính di động khác không liên quan tới sự thay đổi về tầng lớp. Nhƣng quan niệm rất rộng về tính di động theo chiều ngang này lại gần nhƣ che khuất đi những khác biệt quan trọng giữa những loại tính di động này.
Những thay đổi trong phân cấp tầng lớp hay vị thế không chỉ là qua những thay đổi cá thể, mà còn bởi cách đánh giá thay đổi về các nghề và do các tiêu chuẩn về thành phần khác. Ở hiện tƣợng này còn có một dạng biến đổi về xã hội, tuy nhiên đƣợc coi là tính di động xã hội tập thể, vì tất cả những ngƣời có đặc điểm tƣơng ứng sẽ đƣợc phân cấp lại. Roney Stark, trong “Xã hội học” (Sociology) tái bản lần thứ năm quan niệm: Sự khác nhau giữa các xã hội đƣợc đặc trƣng bởi số lƣợng các tình trạng di động đi lên và đi xuống đi cùng với hệ thống phân tầng xã hội trong các xã hội đó. Sự di động trong xã hội tùy thuộc vào hai yếu tố: (1) Các quy luật chi phối cá nhân làm cách nào để giành đƣợc và giữ đƣợc vị thế của mình, sẽ ảnh hƣởng đến khả năng di động của cá nhân dễ dàng hay khó khăn; (2) Dù các quy luật có tác động nhƣ thế nào hay bằng cách nào đi nữa, thì sự thay đổi cơ cấu xã hội cũng sẽ ảnh hƣởng đến khả năng di động xã hội.
Cũng theo Roney Stark có hai loại di động xã hội chính đó là: (1) Di động cấu trúc (Structural Mobility) diễn ra khi có những thay đổi trong mối quan hệ vị trí giữa các tầng lớp trên và tầng lớp dƣới của xã hội; (2) Di động chuyển đổi (exchange mobility) diễn ra khi có một số trang cá nhân bị giảm sút hay đi xuống về mặt địa thế/địa vị trong xã hội và chính sự đi xuống của những cá nhân này đã tạo cơ hội và vị trí cho các cá nhân khác vƣơn tới chiếm lĩnh vị thế/địa vị của họ trong hệ thống phân tầng xã hội. Stephen Aldridge, nhà xã hội học ngƣời Anh đã coi di động xã hội là sự 15 z dịch chuyển hoặc cơ hội dịch chuyển giữa các nhóm khác nhau trong xã hội, đánh giá ƣu điểm và nhƣợc điểm theo các tiêu chí nhƣ thu nhập, khả năng có việc làm hay cơ hội thăng tiến v.Stephen Aldridge đã đƣa ra những quan điểm về tầm quan trọng của di động xã hội. Theo ông, di động xã hội quan trọng bởi lẽ: Công bằng trong cơ hội là khát vọng vƣơn tới của các thể chế chính trị. Nếu không có sự di động xã hội, điều đó có nghĩa là không có sự công bằng trong các cơ hội.
Hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào sự toàn dụng các khả năng của mọi ngƣời. Sự liên kết xã hội có thể đạt đƣợc ở những nơi con ngƣời tin rằng họ có thể cải thiện đƣợc chất lƣợng cuộc sống và con cái của họ có thể sống tốt nhờ vào khả năng, trình độ và nỗ lực của họ. Sự liên kết xã hội có thể đạt đƣợc ở những nơi con ngƣời tin rằng họ có thể cải thiện đƣợc chất lƣợng cuộc sống và con cái của họ có thể sống tốt nhờ nhờ vào khả năng, trình độ và nỗ lực của họ. Theo chiều hƣớng thay đổi địa vị, Fitcher chia di động xã hội thành hai loại: (1) di động xã hội theo chiều ngang là sự di chuyển lùi hay tiến trên cùng một bình diện xã hội, của một đoàn thể hay tình trạng khác tƣơng tự; (2) di động theo chiều dọc là sự di chuyển của một ngƣời từ một vị thế xã hội này đến một vị thế xã hội khác, từ giai cấp này đến một giai cấp khác.
Tony Bilton và các cộng sự lại phân biệt di động xã hội trên hai khía cạnh: Di động giữa các thế hệ: con trai hay con gái có một địa vị khác biệt (cao hay thấp) hơn địa vị của cha mẹ (chẳng hạn con gái của ngƣời thợ mỏ có thể học tập thành cô giáo, con của nông dân trở thành kỹ sƣ, bác sĩ). Di động trong thế hệ: ở đây chỉ một ngƣời thay đổi trình độ nghề nghiệp trong cuộc đời lao động.Smelser phân loại di động xã hội theo hai loại: (1) di động cá nhân (individual mobility) là sự thay đổi vị trí của một cá nhân trong hệ thống phân tầng. Nó có thể có đƣợc bằng sự di động dọc hoặc di động ngang. Di động tập thể (collective mobility) là sự thay đổi vị trí của một nhóm trong hệ thống phân tầng.2 Khái niệm nhân lực KH&CN Định nghĩa nhân lực KH&CN chất lƣợng cao: Nhân lực chất lƣợng cao đƣợc coi là một nguồn tài nguyên kinh tế chủ chốt và một nguồn năng lƣợng sáng tạo trong khoa học, công nghệ, kinh doanh và nghệ thuật và văn hóa cũng nhƣ các hoạt động khác.
Nguồn nhân lực chất lƣợng cao có giá trị kinh tế lớn và tính di động của nó đã tăng lên với sự toàn cầu hóa, sự lan truyền của CNTT mới và chi phí vận chuyển thấp hơn. Những ai có tài thƣờng có xu hƣớng di động hơn lao động phổ thông. Những ngƣời nhập cƣ với vốn nhân lực cao sẽ có những chính sách nhập cƣ thuận lợi hơn ở những nƣớc tiếp nhận, điển hình là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu ngƣời cao mà lại thiếu các chuyên gia CNTT, các nhà khoa học, bác sĩ y khoa và các loại nhân tài khác. Các cá nhân từ các nƣớc đang phát triển đang ngày càng đáp ứng nhu cầu toàn cầu đối với nhân tài.
Giá trị kinh tế của nhân lực chất lƣợng cao bắt nguồn từ việc sử dụng khác nhau của nó. Nhân lực KH&CN có thể là nguồn lực sản xuất cho nền công nghiệp hiện nay. Để phân tích tính di động nhân lực KH&CN, có thể xét ba chủ thể ở những quốc gia nguồn, sự di cƣ của nhân lực KH&CN có thể giảm nguồn vốn nhân lực của họ. Đối với các quốc gia đang phát triển sự di động của các doanh nhân, các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ, các bác sĩ.sẽ gây cản trở và ảnh hƣởng đến tiềm năng phát triển của các quốc gia này.
Ngƣợc lại đối với các nƣớc tiếp nhận sẽ đƣợc hƣởng lợi từ một dòng chảy chất xám làm tăng cơ sở nguồn nhân lực có chuyên môn mà họ đang thiếu. Dựa vào nguồn vốn nhân lực tiếp nhận đƣợc, các quốc gia tiếp nhận tích lũy đƣợc lợi thế trong lĩnh vực khoa học, y tế, văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, di động xã hội của nhân lực KH&CN sẽ kéo theo sự di động quốc tế của các ý tƣởng khoa học, công nghệ và chuyên môn. Sự di động này tất yếu sẽ dẫn đến sự phân bố không đồng đều về lợi ích giữa các quốc gia “bị chảy chất xám” và các quốc gia tiếp nhận.
17 z Định nghĩa của UNESCO: Nhân lực KH&CN là những ngƣời trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và đƣợc trả lƣơng hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sƣ, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ. Nhƣ vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời. Định nghĩa của OECD: Nhân lực KH&CN dựa trên trình độ và công việc. Theo “Cẩm nang về đo lƣờng nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), theo đó: Nhân lực KH&CN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong những điều kiện sau đây: Đã tốt nghiệp trƣờng đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo).