Chương I, Điều 3, khoản 2) [30]. Gia đình vừa là nơi Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa… Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rể… Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội. Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát. Trong thực tế ở mỗi quốc gia, mỗi gia đình có văn hóa và lối sống khác nhau nên có rất nhiều định nghĩa về gia đình.
Khó có thể đưa ra một định nghĩa chung hoàn hảo. Luận văn này sử dụng khái niệm gia đình được đề cập trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014. Bạo lực gia đình Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định bạo lực gia đình là "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia 8 n đình"[29]. Nếu nhìn nhận về hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình thì tà có thể chia thành các hình thức chủ yếu sau: - Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình - Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…) - Bạo lực về tình dục: là hành vi cưỡng dâm, ép sinh con. Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau. Hiểu một cách thông dụng thì bạo lực gia đình là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Đây là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực và bạo lực trong cả một quá trình để thực hiện hành vi làm cho người khác đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó.
Như vậy, chúng ta nhận thấy bạo lực gia đình có thể xảy ra ở nới văn minh, hiện đại hoặc lạc hậu. Các đặc điểm chung nhất của hành vi bạo lực gia đình: + Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó. + Thứ hai, các hành vi bạo lực gia đình đều được thực hiện cố ý, biết được hậu qủa xong vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. + Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, xuất hiện trong mọi gia đình. 9 n Đối tượng bạo lực gia đình có cả nam lẫn nữ, nhưng thường là những thành viên yếu đuối. Phòng, chống bạo lực gia đình * Khái niệm phòng bạo lực gia đình Phòng bạo lực gia đình nhằm mục đích tìm ra được những biện pháp tác động và quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của bạo bực gia đình, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện xuất hiện bạo lực gia đình. Phòng bạo lực gia đình và sự cần thiết của phòng bạo lực gia đình là để bảo vệ, duy trì trật sự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
Bạo lực gia đình phát sinh, tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song chúng ta hoàn toàn có khả năng tiến hành phòng ngừa và ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình khi nó chưa xảy ra. Quan điểm này thể hiện phương châm rất quan trọng là lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống bạo lực gia đình tốt. Yêu cầu là phải phòng bạo lực gia đình ngay từ lúc đầu, làm cho bạo lực gia đình ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra bạo lực gia đình hay xử lý bạo lực gia đình chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ. Do đó, phòng bạo lực gia đình cần lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu.
Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này thì phòng bạo lực gia đình được coi là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành và toàn xã hội. * Khái niệm chống bạo lực gia đình Khi bạo lực gia đình đã tiến triển lên mức độ trầm trọng hơn, tần suất cũng như cường độ mạnh hơn, hoặc ở vào tình thế nguy hiểm thì nạn nhân thường nhờ cậy các tổ chức đoàn thể, chính quyền, công an, với hy vọng là các tổ chức này gây áp lực và có biện pháp hữu hiệu cũng như mong muốn chống lại bạo lực gia đình. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp chống 10 n bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hòa giải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào.
Vì thế, những vụ việc bạo hành gia đình thường khó phát hiện, khi bị phát hiện cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân và cả những người biết chuyện, và thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn chặn phù hợp là không dễ. Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội. Riêng trong lĩnh vực chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì, tâm lý của người Việt Nam luôn cho rằng: “Xấu chàng hổ ai”, hay “Tốt đẹp thì phô ra, xấu xa thì đậy lại”, tố cáo người trong gia đình có khi lại làm tổn thương, ảnh hưởng người khác, do vậy chính bản thân người bị bạo lực lại hay che giấu, chịu đựng.
Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động chống bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan hệ gia đình. Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời. Do đó, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong chống bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan. Việc chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, do không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này vì nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó. Điều đó một lần nữa khẳng 11 n định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong việc phòng chống bạo lực gia đình. Chính sách phòng, chống bạo lực gia đình Thực tế có rất nhiều các nhìn nhận, định nghĩa về chính sách: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong một thời gian nhất định và đạt được mục tiêu nhất định của chủ thể quản lý…” [24, tr.475] Hay nói cách khác, CSC là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân.
Nhà nước dựa trên nền tảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành CSC. Như vậy đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Điều kiện tồn tại của một chính sách công là tổng hoà những tác động tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định.