đặt vấn đề trong điều kiện hiện nay của các quá trình liêt kết khu vực hoá chín muồi (ví dụ như Liên minh châu Âu), vấn đề vùng và chính sách phát triổn vùng ở cấp độ toàn khối EU và mang tính chất “siêu quốc gia”. Các vùng vĩ mô (macro-region) tương đương với quy mô một quốc gia nhỏ của EU (chẳng hạn: Aixơlen, Lúcxămbua, Bồ Đào N ha,.) hoặc là một bộ phận lãnh thổ của quốc gia lớn (ví dụ vùng miền Nam Italia hoặc các bang của nước Đức). Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy chính sách phát triển vùng là chính sách kinh tế - xã hội thuộc tầm trung mô do Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Chính quyền địa phương) ban hành và chi đạo tổ chức thực hiện. Nó là hành động can thiệp của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến phát triển vùng.
Chù thể của chính sách phát triển vùng là Nhà nước. Đối tượng của chính sách là các vùng kinh tế. Nội dung của chính sách là điều chinh các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trên phạm vi vùng và giữa các vùng với nhau nhằm mục tiêu phát triển vùng có hiệu quà. Bản chẩt cùa chính sách phát triển vùng Bản chất của chính sách vùng là ở chỗ sử dụng tối ưu các tiền đề và các nhân tố ở các lãnh thổ thuận lợi và cực tiểu hoá những ảnh 117 hường tiêu cực của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lên sự phát triển các vùng khó khăn vì lợi ích chung của toàn xã hội.
Các thành phần dưới đây được xem xét với tư cách là khách thể tác động của chính sách phát triển vùng: - Cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân; - Các chủ thể kinh tế của đất nước (các đom vị hành chính); - Các vấn đề kinh tế, xã hội và sinh thái được xác định trên một lãnh thổ nhất định và chúng có ý nghĩa quan trọng cho các vùng và toàn quổc. Các khái niệm như “Kinh tể vùng”, “Phát triển vùng”, “Quy hoạch và mô hình hoá vùng”,. nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với chính sách vùng. Chính sách vùng nghiên cứu toàn bộ các nhân tố và hiện tượng kinh tế - xã hội chi phối sự hình thành và phát triển lực lượng sản xuất và các quá trình xã hội trong khuôn khổ một vùng cụ thể.
Trong các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài đều cho rằng sự khác biệt về vùng (sự phát triển không đồng đều kinh tế - xã hội giữa các vùng) được coi là điểm xuất phát của chính sách phát triển vùng. Nguyên nhân của sự khác biệt giữa các vùng có thể chi ra như sau: - Sự khác biệt của các đặc điểm tự nhiên và khí hậu ảnh hường đến điều kiện sống và kinh doanh; - Quy mô, chất lượng và phương hướng sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên xác định tính “sản phẩm” của các vùng; - Vị trí ngoại vi hay vùng xa, vùng sâu của các vùng, điều này làm tàng chi phí vận tải và các chi phí khác, hạn chế mờ rộng thị trường tiêu thụ; - Cơ cấu sản xuất lạc hậu, sự chậm trễ đổi mới sản xuất; - Các ưu thế về vị trị địa lí thuận lợi; - Các ưu thế trội về công nghệ mới; - Sự khác biệt về điều kiện nhân khẩu, dân tộc, tôn giáo; - Sự khác biệt về môi trường kinh doanh; 118 - Các nhân tổ chính trị và hệ thống thể chế pháp lí; - Các nhân tố văn hoá xã hội; - Trình độ đô thị hoá. Cấu trúc của chính sách phát triển vùng Cũng như các chính sách kinh tế - xã hội khác, chính sách phát triển vùng có cấu trúc chặt chẽ gồm các yếu tố sau: Mục tiêu của chính sách, các nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chính sách, các chính sách bộ phận và các giải pháp công cụ thực hiện mục tiêu. M ục tiêu của chinh sách vùng Mục tiêu cơ bản của chính sách vùng là tăng trường của toàn bộ nền kinh tế phát triển cân bàng giữa các vùng.
Mục tiêu cân bàng là hướng tới một sự hài hoà tương đối giữa các vùng về phúc lợi xã hội, thu nhập và cơ hội phát triển của công dân và các nhóm xã hội. Ngược lại, mục tiêu tăng trưởng nhàm vào việc sử dụng tối ưu tất cả các nguồn lực và lợi thế của từng vùng để nâng cao mức tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Chistabaev (1998), mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách vùng (tương tự như là các hình thức biểu hiện và phương pháp thực hiện nó) của các quốc gia khác nhau là không thể trùng nhau và có sự biến đổi trong khuôn khổ phạm vi rộng. Tuy nhiên, có những đặc điểm chung về mục tiêu của nó thuộc về bản chất của chính sách vùng không phân biệt các loại hình quốc gia và thể chế chính trị.
Các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể là: - Xây dựng và củng cố không gian kinh tể thống nhất và đảm bảo cơ sở kinh tế, xã hội, pháp lí và tổ chức tính toàn vẹn quốc gia; - San bằng tương đối các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng; - Ưu tiên phát triển các vùng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng đổi với quốc gia; - Sử dụng tối đa các ưu thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của vùng; 119 - Ngăn ngừa thảm hoạ ô nhiễm môi trường, sinh thái hoá việc sử dụng tự nhiên của vùng, bảo vệ sự đa dạng sinh học. Có mục tiêu chung của tất cả các chính sách và có mục tiêu riêng cụ thể của từng chính sách. Mục riêu chung của tất cả các chính sách phát triển vùng là đảm bào kinh tế vùng tăng trường với tốc độ cao, có cơ cấu kinh tế vùng hợp lý, khai thác được lợi thế so sánh của vùng, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư, phát triển hài hòa trong mối quan hệ với các vùng khác và cả nước. Đẻ thực hiện mục tiêu chung đó, mỗi chính sách cụ thể cỏ mục tiêu riêng của mình.
Chẳng hạn, mục tiêu của «hình sách định vị công nghiệp là bố trí hợp lý các cơ sờ các ngành vào nơi cỏ điều kiện phát triển tốt nhất, bố trí các khu công nghiệp tập trung phù hợp với đặc điểm của vùng. Nếu thực hiện được các mục tiêu cụ thể này chính sách định vị công ngiệp góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung nói trên. Nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chỉnh sách Nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chính sách là những quan điểm chi đạo hành vi của các cơ quan Nhà nước trong quá trình hoạch định chính sách và quá trình tổ chức thực thi chính sách. Các nguyên tác này được xác định ừên cơ sở nhận thức các quy luật khách quan chi phối quá trình chính sách và mục tiêu của chính sách.
Các nguyên tắc này được xây dựng dựa vào các mục tiêu cụ thể và các mục tiêu chung của chính sách. Xuất phát từ các mục tiêu mà thiết kế các nguyên tắc cho phù hợp. Các loại chính sách vùng Theo tác giả Nguyễn Tiến Dũng và nnk (2007), cỏ thể phân loại chính sách phát triển vùng thành 2 nhóm sau: a) Nhỏm chính sách tổng thế phát triển vùng: Nhỏm chính sách này hướng tới giải quyết các vấn đề cơ bản của toàn bộ hệ thống vùng hoặc của từng loại vùng thích hợp. Nó bao gồm: - Chính sách giải quyết toàn bộ hệ thống, bao gồm: 120 + Chính sách phát triển giao thông vận tải và thông tin liên lạc: Chính sách này quan tâm tới mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông và thông tin để kết nối giữa vùng với các vùng khác và với cả nước.
+ Chính sách phát triển đô thị: Chính sách này hướng sự chú ý đến phát triển các đô thị trong vùng và sự liên kết giữa các đô thị. - Chính sách áp dụng cho từng loại vùng thích hợp: + Chính sách kiểm soát không gian sản xuất: Thường được áp dụng đối với các vùng có cơ cấu sản xuất đa dạng cao, có thu nhập bình quân đầu người cao và tốc độ tăng trưởng cao. + Chính sách tái chuyển đổi và phân cực: Áp dụng đối với các vùng cỏ cơ cấu sản xuất đa dạng, có thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình hoặc thấp và tăng trưởng chậm. + Chính sách đa dạng hóa và hội nhập: Áp dụng cho các vùng cỏ mức thu nhập bình quân đầu người cao, tăng trưởng nhanh, cỏ vài ngành phát triển chiếm ưu thế nổi bật, không cỏ các đô thị vững chắc và sự liên kết với các vùng khác vào loại yếu.
+ Chính sách hỗ trợ và bổ sung: Áp dụng cho các vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp, tăng trưởng chậm, cơ cấu sản xuất đơn điệu (chủ yếu là nông nghiệp), nhưng có tiềm năng phát triển trong tương lai. b)Nhỏm chỉnh sách cụ thể phát triển vùng - Chính sách định vị công nghiệp: Ngành công nghiệp luôn là đối tượng đặc biệt của việc soạn thảo các chính sách phát triển vùng. Đối với chính sách định vị công nghiệp cỏ hai câu hỏi phải được trả lời: Các ngành công nghiệp cụ thể nào sẽ được phát triển ở ữong vùng? Làm thế nào có thể lựa chọn được địa điểm thích hợp nhất đối với sự phát triển của ngành? Vì vậy, nội dung cơ bản của chính sách định vị công nghiệp bao gồm: + Chính sách định vị công nghiệp phải đề xuất được sổ lượng, quy mô, vị trí của các khu công nghiệp tập trung hoặc các chùm công nghiệp. Điều này phải được thể hiện trong quy hoạch phát triển vùng.
121 + Chính sách định vị công nghiệp góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm. + Các khuyến khích việc làm phải kết hợp với các khuyến khích về vốn trong chính sách định vị công nghiệp. + Cung cấp năng lượng từ các nguồn một cách hợp lý với số lượng, chất lượng giá cả phù hợp. + Phải có chính sách đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề tại các trung tâm vùng.
+ Sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước như là lực lượng đóng vai trò chủ đạo trong chính sách định vị công nghiệp. - Chính sách vốn cho phát triển vùng: Mọi chính sách phát triển vùng phải hướng tới khơi thông khai thác các nguồn vốn khác nhau trong vùng và giữa các vùng và biến nó thành vốn đầu tư cho phát triển vùng.