Chương 1: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH TỰ ĐỘNG HOÁ CỦA ĐÀI LOAN 1.1 Khái niệm tự động hoá 1.1 Định nghĩa tự động hoá Trên thế giới, định nghĩa về tự động hoá thay đổi theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong từng thời kỳ, mỗi định nghĩa đánh dấu một bước phát triển mới, một công nghệ mới ra đời của ngành này. Cũng như vậy, chính sách về tự động hoá của các quốc gia cũng luôn thay đổi để có những điều chỉnh và tác động kịp thời cho phù hợp với sự phát triển của nó. Về cơ bản, chính sách tự động hoá là chính sách “động”, chỉ có thể thông qua việc tìm hiểu ý nghĩa và đặc thù của tự động hoá, chúng ta mới có thể nắm vững được chính sách phát triển lĩnh vực này. Kể từ cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ XVIII, máy móc có thể thay thế con người trong việc sản xuất hàng loạt sản phẩm, góp phần làm giảm giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động và trình độ của lực lượng sản xuất.
Những năm 1920, công ty Ford của Mỹ sau khi sử dụng dây chuyền sản xuất tự động hoá, giá thành sản phẩm giảm đến 62%, năng suất tăng lên đến 10 lần, bởi vậy kỹ thuật tự động hoá đã trở thành một đề tài thu hút nhiều công trình nghiên cứu. Khái niệm “tự động hoá” xuất hiện sớm nhất vào những năm 40 của thế kỷ trước, người đầu tiên sử dụng là Phó tổng giám đốc hãng ô tô Fofd D. Lúc đầu người ta gọi đó là “triết học của chế tạo”. Sau đó, John Diebold (1962) tiến thêm một bước coi tự động hoá là một cách tổ chức hoặc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương thức quản lý sản xuất tận dụng một cách hợp lý, khoa học tư liệu sản xuất bao gồm máy móc, nguyên liệu và cả con người [22:16].
Trong thời kỳ đầu phát triển, các định nghĩa thường thiên về diễn giải ý nghĩa của tự động hoá. Những năm 1970, tự động hoá đã phát triển với những máy móc thiết bị điều khiển, sản xuất hàng loạt sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí và nhân công lao động. Thời kỳ này, các chuyên gia đã bắt đầu dùng các khái niệm “kỹ thuật” để định nghĩa tự động hoá, làm cho định nghĩa được cụ thể và khách quan hơn. Simon (1977) đã coi tự động hoá là tổ hợp “người và các thiết bị điện tử” thành một hệ thống người máy phức tạp.
Những năm 1980, định nghĩa về tự động hóa được chi tiết và rõ ràng hơn như Goover đã nói: “tự động hoá là công nghệ sử dụng máy móc phức tạp có sự hỗ trợ của máy vi tính điện tử để sử dụng trong việc quản lý các thao tác sản xuất”. Đồng thời, tự động hoá là một hệ thống tổ hợp, một phương pháp sản xuất tận dụng thích hợp các nguồn lực sản xuất như Mar Shall định nghĩa “tự động hóa là sử dụng máy móc và các linh kiện điện tử để tự động quản lý sản xuất, nhằm thay thế các thao tác của con người trong kiểm nghiệm và đánh giá”. Như vậy, phạm vi của tự động hoá đã mở rộng bao gồm cả quá trình sản xuất và khâu quản lý hành chính. Như vây, tự động hoá theo nghĩa hẹp là một kỹ thuật tích hợp thao tác, thiết bị, quy trình chế tạo cũng như kỹ thuật của nhiều ngành khác nhau.
Theo nghĩa rộng, nó được hiểu như sau: Thứ nhất, đó là một hệ thống các thao tác sản xuất liên tục, hoàn chỉnh, là sử dụng kỹ thuật điện tử và các thiết bị khác để quản lý và điều chỉnh sản lượng và chất lượng của sản phẩm. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, tự động hoá là kết hợp phần mềm ứng dụng vi tính, máy cảm trắc, quản lý, kỹ thuật thông tin để thay thế và tiết kiệm nhân lực, nhằm tăng sức sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Đặc điểm của tự động hoá Tự động hoá là một ngành tích hợp kỹ thuật, công nghệ của nhiều ngành nghề khác nhau, bởi vậy kỹ thuật và đặc trưng của tự động hoá cũng luôn phát triển qua các giai đoạn. Cho đến nay, có thể tổng kết các đặc trưng của tự động hoá như sau: Thứ nhất, tự động hoá là kỹ thuật, công nghệ tích hợp của tất cả các kỹ thuật liên quan đến quá trình điển khiển và công nghệ mang tính trí tuệ, người ta không ngừng thu hút, tổng hợp những kỹ thuật hiện đại để đổi mới, đưa vào điều khiển và hỗ trợ cho quá trình sản xuất từ khâu thiết kế đến khâu chế tạo và phân phối sản phẩm, để tạo nên phương pháp sản xuất có tính kỹ thuật cao, không ngừng đổi mới.
Thứ hai, tự động hoá là một phương pháp của quá trình điều khiển có tính mục đích và tính chuyên nghiệp cao. Vốn đầu tư tự động hóa rất cao, nên thời gian thu hồi vốn là yếu tố quan trọng quyết định để doanh nghiệp có tiến hành tự động hóa hay không. Kinh nghiệm trong quá trình quản lý sản xuất là do doanh nghiệp tự tích lũy cho riêng mình, các doanh nghiệp khác nhau có xu hướng phát triển tự động hoá khác nhau. Bởi vậy, tự động hoá có tính chuyên môn cao, đồng thời chính tự động hoá tạo nên sự khác biệt của từng doanh nghiệp, giúp nâng cao tính cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp sản xuất.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, công nghệ tự động hóa đã trở thành trọng tâm phát triển kinh tế của các quốc gia, các thiết bị tự động hóa rất đa dạng về cả chất và lượng. Bởi vậy việc thu thập thông tin, nghiên cứu và xử lý dữ liệu đều cần phải có bước tiến dài, mới kịp thời hỗ trợ cho việc thực hiện các chính sách phát triển tự động hoá. Thứ tư, kỹ thuật tự động hoá ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề. Kỹ thuật tiến bộ đáp ứng được sức sản xuất lớn là nguồn gốc chính của phát triển kinh tế lâu dài, đồng thời thường biểu hiện ở nền sản xuất với sản lượng và chất lượng được nâng cao.
Về cơ bản, tự động hóa là sự biến đổi kỹ thuật mang tính toàn diện và ảnh hưởng của nó bao trùm lên hầu hết tất cả các ngành sản xuất. Hiệu quả mà nó đạt được cần phải qua sự sáng tạo về kỹ thuật, được áp dụng và phổ cập kỹ thuật mới có thể phát huy được hết. Đồng thời khi các doanh nghiệp quyết định tự động hóa cần phải tính đến nhiều yếu tố để cân bằng kinh tế. Bởi vậy, tự động hoá luôn được các nhà sản xuất tại các quốc gia tiên tiến tính đến khi muốn đổi mới dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh hình ảnh cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
Nhưng khi đầu tư vào thiết bị tự động hoá, các doanh nghiệp cũng cần phải tính đến những vần đề như sau: thiết bị đắt, chi phí đầu tư lớn, bởi vậy phải là các doanh nghiệp có khả năng lớn về vốn mới nên thử nghiệm. Ngoài ra, kỹ thuật tự động hoá yêu cầu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề vận hành, sử dụng máy móc thiết bị nên mỗi quốc gia để phát triển tự động hoá cần phải đồng thời quan tâm đến sự phát triển của kinh tế xã hội và tuyên truyền giáo dục và đào tạo. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tình hình kinh tế Đài Loan trước khi thực hiện chính sách phát triển tự động hoá. Vấn đề nhân lực: Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nền sản xuất Đài Loan đã bắt đầu có những thay đổi, đặc biệt trong vấn đề nhân lực.
Trước hết, người lao động tham gia trực tiếp sản xuất ngày càng ít, chi phí đầu tư vào lao động ngày một tăng, vì trong lúc này nền kinh tế Đài Loan đang có sự chuyển dịch lao động lớn từ các ngành sản xuất sang ngành dịch vụ. Tiếp đến là sự gia tăng những tranh chấp giữa người lao động và chủ sử dụng, người lao động có sự so sánh về môi trường làm việc tốt xấu, phúc lợi nhiều ít, lương cao thấp, hơn nữa trình độ giáo dục của người lao động ngày càng nâng cao nên dần dần ít người chịu làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm và vất vả, dẫn đến việc các ngành tập trung nhiều lao động ngày càng thiếu nhân lực. Hơn nữa, do chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao, người dân cũng càng ngày càng chú trọng vấn đề môi phản đối những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường. Bởi vậy, trong lúc này thị trường lao động Đài Loan bất kể từ chất, lượng, đến cơ cấu lao động và kể cả người lao động cũng có sự thay đổi lớn, khiến cho nền kinh tế Đài Loan trước kia vốn dựa vào giá nhân công rẻ để cạnh tranh trên thị trường quốc tế nay đã mất đi ưu thế cạnh tranh.
Đồng lương tăng: Đồng lương thấp là một trong những yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, theo sự phát triển của nền kinh tế và cục diện của thị trường lao động xuất hiện hiện tượng cung không đủ cầu khiến đồng lương tăng vọt, dẫn đến giá thành sản xuất cũng tăng mạnh, kéo theo giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giá đất tăng vọt: Giảm thuế đất, thuế sử dụng đất là những ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư của các nước đang phát triển và Đài Loan cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng khi công nghiệp đã phát triển đến một trình độ nhất định, người nông dân dần dần hiểu được những nguồn lợi thu được từ việc phát triển công nghiệp không như họ tưởng thì họ từ ủng hộ chuyển sang đấu tranh, đòi tăng giá đất đền bù. Ngoài ra, với một hòn đảo nhỏ bé mà 75% diện tích là núi như Đài Loan thì giảm giá đất không phải là một ưu thế có thể duy trì lâu.
Bởi vậy, giá đất tăng đã ảnh hưởng không tốt đến việc khai thác đất sử dụng khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn. Đồng Đài tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh những của doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên sản xuất các mặt hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, đặc biệt ảnh hưởng đối với những ngành nghề tập trung nhiều lao động.