Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Cơ Sở Chăm Sóc Người Cao Tuổi Tại Hà Nội

Tài liệu nghiên cứu La trinhphuongthao, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

213
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.5. Hướng tiếp cận nghiên cứu

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Các hướng tiếp cận nghiên cứu thực hiện chính sách công

2.2. Các nghiên cứu về nhu cầu phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

2.3. Các nghiên cứu về chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

2.4. Các nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

2.5. Tiểu kết Chương 2

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI

3.1. Người cao tuổi và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi. Cơ sở chăm sóc Người cao tuổi

3.2. Chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

3.3. Thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

3.5. Quan điểm định hướng và chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam. Khung phân tích của luận án

3.6. Tiểu kết Chương 3

4. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HÀ NỘI

4.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

4.2. Đánh giá quy trình thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội

4.3. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội

4.4. Tiểu kết Chương 4

5. GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HÀ NỘI

5.1. Cơ sở các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội

5.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội

5.3. Tiểu kết Chương 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chính Sách Phát Triển Cơ Sở Chăm Sóc NCT Hà Nội

Hà Nội đối mặt với tốc độ dân số già nhanh chóng và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi Hà Nội ngày càng tăng. Điều này đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của các cơ sở dưỡng lão Hà Nội. Chính phủ và thành phố đã ban hành nhiều chính sách, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào việc thành lập và vận hành các cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Tuy nhiên, số lượng cơ sở và khả năng đáp ứng nhu cầu vẫn còn hạn chế. Cần thiết phải đánh giá và cải thiện hiệu quả của các chính sách hiện hành để đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi Hà Nội. Theo báo cáo năm 2022 của Bộ LĐTBXH, số lượng cơ sở chăm sóc NCT chưa đạt 1/2 so với mục tiêu đề ra.

1.1. Thực trạng dân số già và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi

Hà Nội có tỷ lệ dân số già tăng nhanh, với tuổi thọ trung bình cao nhất cả nước. Tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh mãn tính, sống một mình cũng gia tăng. Điều này tạo ra áp lực lớn lên hệ thống dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại nhà Hà Nội và các cơ sở chăm sóc tập trung. Nhu cầu chăm sóc dài hạn (CSDH) trở nên cấp thiết. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm NCT từ 80 tuổi trở lên gặp nhiều khó khăn trong việc tự chăm sóc, đòi hỏi sự hỗ trợ chuyên nghiệp hơn.

1.2. Vai trò của chính sách trong phát triển cơ sở chăm sóc

Chính sách đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển cơ sở dưỡng lão Hà Nội. Các chính sách khuyến khích xã hội hóa, ưu đãi về đất đai, vốn vay, thuế... có thể thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách còn nhiều hạn chế, dẫn đến số lượng cơ sở chăm sóc chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Nhà nước, gia đình và cộng đồng là các chủ thể chịu trách nhiệm chăm sóc NCT.

II. Vấn Đề Tại Sao Chính Sách Chưa Phát Huy Hiệu Quả Ở Hà Nội

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, số lượng cơ sở chăm sóc người cao tuổi Hà Nội vẫn còn ít, và nhiều dự án xã hội hóa bị trì trệ. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố: thủ tục hành chính phức tạp, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các ban ngành. Cần phân tích sâu sắc những rào cản này để tìm ra giải pháp tháo gỡ. Quy mô chăm sóc, nuôi dưỡng NCT tại các cơ sở TGXH chỉ khoảng hơn 1100 người, đáp ứng được khoảng dưới 2% nhu cầu thực tế.

2.1. Rào cản trong thủ tục hành chính và tiếp cận nguồn vốn

Các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong quá trình xin cấp phép thành lập cơ sở chăm sóc người cao tuổi tư nhân Hà Nội. Thủ tục hành chính rườm rà, thời gian chờ đợi kéo dài làm giảm tính hấp dẫn của lĩnh vực này. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi cũng không dễ dàng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều cơ sở chưa được cấp phép bởi ngành LĐTBXH.

2.2. Thiếu hụt nhân lực và chất lượng dịch vụ chưa cao

Ngành chăm sóc người cao tuổi đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực, đặc biệt là nhân viên có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về các bệnh lý lão khoa và kỹ năng chăm sóc người cao tuổi neo đơn Hà Nội. Chất lượng dịch vụ tại một số cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu, gây ảnh hưởng đến niềm tin của người dân. Số lượng cán bộ tại các cơ sở vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về năng lực chăm sóc chuyên sâu đối với nhóm đối tượng NCT.

2.3. Sự phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ

Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành liên quan (LĐTBXH, Y tế, Tài chính,...) trong việc quản lý và hỗ trợ cơ sở chăm sóc người cao tuổi công lập Hà Nội còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự chồng chéo, chậm trễ trong giải quyết các vấn đề phát sinh. Cần có cơ chế phối hợp hiệu quả hơn để đảm bảo hoạt động thông suốt của các cơ sở.

III. Giải Pháp Đổi Mới Chính Sách Chăm Sóc Người Cao Tuổi Hà Nội

Để cải thiện hiệu quả của các chính sách hiện hành, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Tập trung vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường hỗ trợ tài chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cơ sở vật chất cơ sở chăm sóc người cao tuổi rõ ràng và minh bạch. Tạo điều kiện cho sự phát triển của các mô hình chăm sóc người cao tuổi Hà Nội đa dạng và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng.

3.1. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường hỗ trợ tài chính

Cần rà soát và loại bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi. Tăng cường các chính sách hỗ trợ tài chính, như cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, miễn giảm thuế,... để giảm bớt gánh nặng chi phí cho các cơ sở chăm sóc.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng tiêu chuẩn dịch vụ

Đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân viên chăm sóc người cao tuổi về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, và đạo đức nghề nghiệp. Xây dựng bộ tiêu chuẩn dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cụ thể và rõ ràng, làm cơ sở để đánh giá và kiểm soát chất lượng dịch vụ.

3.3. Phát triển đa dạng các mô hình chăm sóc người cao tuổi

Khuyến khích phát triển các mô hình chăm sóc người cao tuổi linh hoạt và đa dạng, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng gia đình và cá nhân. Bên cạnh các cơ sở dưỡng lão, cần phát triển các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại nhà, các trung tâm chăm sóc ban ngày, và các câu lạc bộ người cao tuổi.

IV. Nghiên Cứu Ứng Dụng Thực Tiễn Và Đánh Giá Kết Quả Ở Hà Nội

Việc triển khai các giải pháp cần đi kèm với việc đánh giá kết quả một cách khách quan và khoa học. Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả, thu thập thông tin phản hồi từ người sử dụng dịch vụ, và thực hiện các nghiên cứu định kỳ để đo lường tác động của các chính sách. Dựa trên kết quả đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Báo cáo cho thấy sự phát triển của các cơ sở chăm sóc NCT hiện nay còn rất hạn chế so với kỳ vọng CS.

4.1. Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả chính sách

Thiết lập các chỉ số cụ thể và đo lường được để đánh giá hiệu quả của các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Các chỉ số này có thể bao gồm số lượng cơ sở được thành lập, số lượng người cao tuổi được chăm sóc, mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ, và tỷ lệ tái nhập viện.

4.2. Thu thập thông tin phản hồi từ người sử dụng dịch vụ

Thực hiện các cuộc khảo sát, phỏng vấn, hoặc hội thảo để thu thập thông tin phản hồi từ người cao tuổi và gia đình về chất lượng dịch vụ, mức độ hài lòng, và những vấn đề cần cải thiện. Thông tin này là cơ sở quan trọng để điều chỉnh và hoàn thiện chính sách.

4.3. Nghiên cứu định kỳ và điều chỉnh chính sách

Thực hiện các nghiên cứu định kỳ để đánh giá tác động của các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi đến các khía cạnh kinh tế, xã hội, và sức khỏe. Dựa trên kết quả nghiên cứu, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của xã hội.

V. Tương Lai Định Hướng Phát Triển Bền Vững Chăm Sóc NCT Hà Nội

Hướng tới một hệ thống chăm sóc người cao tuổi bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Tập trung vào việc xây dựng mạng lưới các cơ sở chăm sóc người cao tuổi uy tín Hà Nội rộng khắp, đa dạng về loại hình và chất lượng dịch vụ. Đồng thời, tăng cường vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc người cao tuổi, tạo môi trường sống thân thiện và hòa nhập cho người cao tuổi. Việt Nam bắt đầu thời kỳ dân số già từ năm 2036, khi tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên vượt 14%.

5.1. Xây dựng mạng lưới cơ sở chăm sóc rộng khắp và đa dạng

Phát triển mạng lưới các cơ sở chăm sóc người cao tuổi phủ khắp các quận, huyện, xã, phường, đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ cho mọi người cao tuổi. Khuyến khích phát triển các loại hình cơ sở chăm sóc đa dạng, như trung tâm dưỡng lão, viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc ban ngày, và dịch vụ chăm sóc tại nhà.

5.2. Tăng cường vai trò của gia đình và cộng đồng

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và trách nhiệm trong việc chăm sóc người cao tuổi. Hỗ trợ các gia đình có người cao tuổi gặp khó khăn trong việc chăm sóc. Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, tình nguyện viên vào các hoạt động chăm sóc người cao tuổi.

VI. Kết Luận Nâng Cao Hiệu Quả Chính Sách Cho Người Cao Tuổi

Việc thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi là yếu tố then chốt để giải quyết bài toán dân số già ở Hà Nội. Cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế, và sự ủng hộ của cộng đồng. Chỉ khi đó, mới có thể xây dựng một xã hội thích ứng với già hóa dân số, nơi người cao tuổi được sống vui, sống khỏe, và sống có ý nghĩa. Dự báo số tỉnh có dân số cao tuổi lớn hơn dân số trẻ em sẽ tăng từ 14/63 lên 41/63 tỉnh thành trong 10 năm sắp tới (2029- 2039) .

6.1. Tổng kết và bài học kinh nghiệm

Tổng kết những thành công và hạn chế trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi ở Hà Nội. Rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để áp dụng cho các địa phương khác. Học tập kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống chăm sóc người cao tuổi phát triển.

6.2. Kiến nghị và đề xuất

Đưa ra các kiến nghị và đề xuất cụ thể để hoàn thiện hệ thống chính sách chăm sóc người cao tuổi, nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước, và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các cơ sở chăm sóc người cao tuổi.

27/05/2025
La trinhphuongthao

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi Chương 3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội Chương 4.

Giải pháp cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các hướng tiếp cận nghiên cứu thực hiện chính sách công Các nghiên cứu về thực hiện CS trên thế giới hiện nay khá đa dạng với nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các thập kỷ qua. Trong một nghiên cứu tổng hợp năm 2005 với tiêu đề bài báo “Sự thật và huyền thoại về nghiên cứu thực hiện chính sách công: Không hợp thời, bị cáo buộc là đã chết, nhưng vẫn còn rất nhiều và có liên quan”, tác giả Saetren [128] đã chỉ ra nguồn gốc của các nghiên cứu về thực hiện CS đã có từ năm 1930, mặc dù đa phần đều tin rằng những nghiên cứu này bắt đầu từ hai tác giả Pressman và Wildavsky [124] bởi hai ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng thuật ngữ “Thực hiện CS” và phổ biến nó.

Tuy nhiên, sự khởi đầu của các nghiên cứu về thực hiện CS đã bắt đầu từ rất sớm với nhiều những khái niệm và cách tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu về thực hiện CS. Đầu tiên phải kể đến cách tiếp cận định lượng dựa trên lý thuyết kinh tế trong nghiên cứu thực hiện CS với công trình nghiên cứu điển hình của Hotelling [98] trong bài báo có tiêu đề "Phúc lợi chung liên quan đến các vấn đề thuế và mức giá của đường sắt và tiện ích" được công bố vào năm 1938. Trong nghiên cứu này, ông đã đưa ra các phương trình toán học để tính toán chi phí đầu tư và thu nhập bình quân đầu người trong các CS. Hướng tiếp cận của Hotelling là sử dụng phương pháp định lượng và lý thuyết kinh tế để nghiên cứu và giải thích tại sao chính phủ lại có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến CS công và đưa ra các phương trình toán học để tính toán chi phí đầu tư và thu nhập bình quân đầu người trong các CS này.

Kết quả nghiên cứu đã giúp ngành kinh tế học hiểu rõ hơn về vai trò của chính phủ trong việc quản lý và thực hiện CS bằng cách đưa ra phương pháp tính toán lợi ích - chi phí, giúp chính phủ đưa ra quyết định hiệu quả hơn trong việc thực hiện các CS công. Tuy nhiên, nghiên cứu này bị giới hạn trong một số khía cạnh như không đưa ra các phân tích chi tiết về các ảnh hưởng khác của CS đối với nền kinh tế - xã hội cũng như không đưa ra các giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề liên quan đến CS. Một nghiên cứu khác của hai tác giả Bahl và Oates [64] có tên “Khía cạnh về Khả năng Tài chính: Một so sánh Quốc tế” được đăng trên tạp chí Public Finance 13 Quarterly vào năm 1978 đã sử dụng mô hình ngân sách chi tiết để phân tích dữ liệu ngân sách của 12 tiểu bang tại Hoa Kỳ từ 1955 đến 1970. Kết quả cho thấy các CS thuế và chi tiêu của tiểu bang có tác động mạnh mẽ đến tình trạng ngân sách, và việc sử dụng mô hình ngân sách chi tiết có thể giúp các tiểu bang đưa ra những quyết định ngân sách chính xác hơn.

Nghiên cứu của Bahl và Oates đã đưa ra một cách tiếp cận phân tích và đánh giá hiệu quả của các CS công bằng cách sử dụng phương pháp tính toán ngân sách chi tiết. Nghiên cứu này đã làm nổi bật vai trò quan trọng của việc quản lý và kiểm soát ngân sách để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của kinh tế. Cùng với cách tiếp cận kinh tế và lợi ích, năm 1955 tác giả Herbert A. Simon đã đưa ra khái niệm "quyết định chính sách" (policy decision), đó là quá trình lựa chọn và triển khai các hành động để giải quyết một vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế hoặc môi trường.

Khái niệm này giúp cho các nghiên cứu về thực hiện CS công tập trung vào quá trình lựa chọn và thực hiện CS thay vì chỉ tập trung vào việc thiết kế CS. Simon đã sử dụng lý thuyết quyết định để giải thích quá trình quyết định CS. Theo lý thuyết này, quyết định được đưa ra dựa trên việc so sánh các tùy chọn khác nhau và đánh giá các hậu quả có thể xảy ra từ mỗi tùy chọn. Để đưa ra quyết định tốt nhất, quá trình quyết định phải dựa trên thông tin đầy đủ và chính xác về tình hình và các tùy chọn có sẵn.

Quá trình quyết định cũng bao gồm các yếu tố tâm lý và chính trị, bởi vì các quyết định CS thường bị ảnh hưởng bởi những quan điểm chính trị, giá trị và lợi ích của các bên liên quan [132]. Với cách tiếp cận xem xét các yếu tố văn hóa, chính trị, xã hội, tác giả Appleby [62] trong cuốn sách "Quản lý công và Lợi ích cộng đồng” đã phân tích một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện CS công, bao gồm cả các yếu tố văn hóa, chính trị và kinh tế. Trong cuốn sách của mình, Appleby đã chỉ ra rằng quyết định CS công không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố văn hóa, chính trị và xã hội. Vì vậy, tác giả khuyến khích các nhà quản lý công và nhà hoạch định CS nên cân nhắc đến các yếu tố này khi thực hiện CS công.

Theo Appleby, để tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của CS công, các nhà quản lý công nên đảm bảo rằng quá trình ra quyết định được thực hiện công khai và minh 14 bạch, và các quyết định này phải được dựa trên những thông tin đầy đủ và chính xác. Cuốn sách của Appleby đã ảnh hưởng đến nhiều nghiên cứu về thực hiện CS công sau này. Nó đã mở ra một hướng tiếp cận mới về việc xem xét các yếu tố văn hóa, chính trị và xã hội trong quyết định CS công, và đã thúc đẩy sự quan tâm đến việc tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của CS công [62]. Tiếp theo là hướng tiếp cận phân tích dựa trên quan điểm các nhóm lợi ích.

Nghiên cứu của hai tác giả Lindblom [110] và Wildavsky [148] đưa ra những phương pháp và hướng tiếp cận tương đồng và mở rộng trong việc phân tích thực hiện CS. Nghiên cứu của Lindblom lấy ví dụ về quyết định CS về nông nghiệp và cho rằng quyết định đó phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích, thông tin và kinh nghiệm của cán bộ lãnh đạo thực hiện CS. Aaron Wildavsky đưa ra khái niệm "nhóm lợi ích" và cho rằng các nhóm lợi ích sẽ có tầm nhìn khác nhau về các CS và sẽ ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ. Nghiên cứu của ông đưa ra một phương pháp phân tích mới về thực hiện CS bằng cách tập trung vào tầm nhìn và quan điểm của các nhóm lợi ích và cách chúng ảnh hưởng đến quyết định CS của chính phủ.

Những phương pháp này cũng giúp chính phủ và các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định CS phù hợp với tầm nhìn của các nhóm lợi ích và các yếu tố xã hội, chính trị và văn hóa khác nhau. Đến những năm 1970, hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả và tính độc lập của CS phát triển mạnh mẽ. Các nghiên cứu về thực hiện CS công bắt đầu tập trung vào các vấn đề về hiệu quả và tính độc lập của các CS, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Các tác giả như Kenneth J.

Arrow, Amartya Sen, và James M. Buchanan đã đưa ra các quan điểm về việc đánh giá hiệu quả của các CS công và ý nghĩa của tính độc lập của các quyết định CS. Các tác giả cho rằng việc đánh giá hiệu quả của các CS công không chỉ dựa trên các chỉ tiêu kinh tế, việc đánh giá hiệu quả của các CS công phải dựa trên sự đánh giá đa chiều về các yếu tố liên quan như môi trường và xã hội cũng như tính độc lập và tiêu chuẩn về trách nhiệm của chính phủ. Sau này, trong công trình nghiên cứu của 2 tác giả Pressman và Wildavsky [124] vào những năm 1970, thuật ngữ “thực hiện chính sách công” chính thức được ra đời với ý nghĩa mô tả quá trình chuyển đổi các CS thành hành động thực tế.

Từ đó, 15 các nghiên cứu về thực hiện CS công đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp và đa dạng, với nhiều cách tiếp cận khác nhau hơn. Các nghiên cứu này bao gồm các phương pháp kết hợp định tính và định lượng, phân tích đa cấp, phân tích mạng lưới, phân tích CS, đánh giá tác động, và nghiên cứu trường hợp. Từ những năm 1980 trở đi, sự phát triển của các nghiên cứu sau đó tiếp tục đạt đỉnh và sụt giảm phần nào. Nhưng các học giả như Goggin và cộng sự [91] tỏ ra khá lạc quan về tương lai của các nghiên cứu được triển khai ở giai đoạn tiếp theo.

Các tác giả dự đoán rằng mối quan tâm có thể sẽ tăng lên trong suốt những năm 1990 và tiếp tục nhiều hơn trong thế kỷ 21. Với nghiên cứu được thực hiện năm 2014, tác giả Saetren [127] đã khẳng định nghiên cứu về thực hiện CS công vẫn còn tồn tại và đã phát triển tốt hơn vào thế kỷ 21. Xu hướng nghiên cứu thực hiện CS công hiện nay thể hiện ở ba khía cạnh: đa dạng hoá các cách gọi thay thế khái niệm thực hiện CS công, xu hướng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, so sánh đối chiếu và hướng tiếp cận đánh giá thực hiện CS bằng công cụ nghiên cứu cụ thể. Ở khía cạnh thứ nhất, các học giả nhận thấy từ thế kỷ 21, nghiên cứu về thực hiện CS lại quay trở lại, nhưng được nghiên cứu dưới những khái niệm mới và khác nhau như: quản trị mới; các công cụ và thiết kế CS; nghiên cứu mạng lưới; thuê ngoài; hợp tác công tư; tính quan liêu cấp xã/phường; quản lý; quản lý công mới; các nghiên cứu về tác nhân chính; hiệu quả hoạt động; thực thi quy định; và tuân thủ [149].

Ở khía cạnh thứ hai, xu hướng nghiên cứu thực hiện CS công trên thế giới hiện nay là tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính mặc dù lý tưởng nhất là kết hợp cả định tính và định lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chính Sách Phát Triển Cơ Sở Chăm Sóc Người Cao Tuổi Tại Hà Nội" trình bày những chính sách và chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi tại Hà Nội. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển cơ sở hạ tầng chăm sóc, cung cấp dịch vụ y tế và hỗ trợ xã hội cho nhóm đối tượng này. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về các chính sách hiện hành, cũng như những giải pháp khả thi để cải thiện điều kiện sống cho người cao tuổi.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án giải pháp giảm nghèo bền vững tại hà nội, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các giải pháp giảm nghèo có thể áp dụng cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ công tác xã hội đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Cuối cùng, tài liệu Một số giải pháp hoàn thiện ông tác tín dụng cho vay đối với hộ nghèo sẽ cung cấp thêm thông tin về các giải pháp tài chính hỗ trợ cho những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách xã hội tại Hà Nội.