Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội" được tác giả Trịnh Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Vinh, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Chính sách công, mã số đào tạo 9 34 04 02.

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh tại Việt Nam. Tính đến tháng 9/2021, tổng dân số cả nước đạt 98,5 triệu người, trong đó người cao tuổi (NCT) là 12,5 triệu người (chiếm 12,8% tổng dân số). Theo dự báo nhân khẩu học theo phương án mức sinh trung bình, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2036 khi tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên vượt ngưỡng 14%, và chuyển sang cơ cấu dân số siêu già vào năm 2056. Bên cạnh đó, số tỉnh có quy mô dân số cao tuổi lớn hơn dân số trẻ em được dự báo sẽ tăng từ 14/63 lên 41/63 tỉnh thành trong giai đoạn 2029-2039. Thực trạng này kéo theo các yêu cầu về chăm sóc sức khỏe lão khoa, điều trị bệnh mãn tính và hỗ trợ nhóm người cao tuổi sống cô đơn hoặc gia đình chỉ có hai vợ chồng già.

Để đáp ứng thực tế trên, Nhà nước đã ban hành quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2015-2025, cùng các chính sách khuyến khích xã hội hóa như ưu đãi về giao đất, thuê đất, vốn vay và thuế. Tuy nhiên, theo số liệu năm 2022 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), cả nước mới có 46 cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc NCT (gồm 6 cơ sở công lập và 40 cơ sở ngoài công lập), đang quản lý và nuôi dưỡng 5.788 đối tượng (835 đối tượng tại cơ sở công lập và 4.953 đối tượng tại cơ sở ngoài công lập). Số lượng cơ sở ngoài công lập mới thành lập chưa đạt một nửa so với mục tiêu đề ra; mạng lưới phân bổ chưa đồng đều; cơ sở vật chất xuống cấp; đội ngũ nhân lực thiếu chuyên môn sâu; và quy mô hiện tại chỉ đáp ứng được khoảng 0,5% số NCT cô đơn, có hoàn cảnh nghèo khó không nơi nương tựa trên toàn quốc.

Tại thành phố Hà Nội – địa bàn có mật độ dân số cao thứ hai cả nước và tuổi thọ trung bình người dân đạt mức trên 75 tuổi, tỷ lệ người già đã tăng gấp đôi trong vòng chưa đầy hai thập kỷ. Dù Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều văn bản nhằm thúc đẩy xã hội hóa mạng lưới cơ sở dưỡng lão, kết quả tính đến tháng 3/2022 cho thấy toàn thành phố chỉ có 02 cơ sở công lập và 13 cơ sở ngoài công lập được cấp phép, cùng 03 cơ sở đang hoạt động nhưng chưa đăng ký cấp phép với Sở LĐTBXH. Toàn bộ mạng lưới này chỉ chăm sóc được hơn 1.100 người, đáp ứng dưới 2% nhu cầu thực tế. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu hụt các công trình phân tích có hệ thống về quy trình thực hiện chính sách và việc nhận diện các nhân tố cản trở hoặc thúc đẩy quá trình đưa chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT vào thực tiễn tại Hà Nội.

Địa bàn Số cơ sở công lập Số cơ sở ngoài công lập Cơ sở chưa cấp phép Quy mô chăm sóc thực tế Mức độ đáp ứng nhu cầu
Toàn quốc (năm 2022) 06 40 Chưa thống kê 5.788 người 0,5% nhóm NCT nghèo cô đơn
TP. Hà Nội (tháng 3/2022) 02 13 03 Hơn 1.100 người Dưới 2% nhu cầu thực tế

Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT tại TP. Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách này định hướng đến năm 2030. Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về việc thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn Hà Nội;
  2. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc NCT tại Hà Nội theo các bước của quy trình thực hiện và xác định các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình phân tích;
  3. Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT tại Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2030, đồng thời cung cấp gợi mở cho các địa phương có bối cảnh tương đồng.

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Kết quả thực hiện các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT trên địa bàn Hà Nội hiện nay như thế nào?
  2. Những yếu tố nào hiện đang cản trở hoặc thúc đẩy tới quá trình thực hiện các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT trên địa bàn Hà Nội?
  3. Làm thế nào để cải thiện việc thực hiện các chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT trên địa bàn Hà Nội?

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định đối tượng là việc thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội. Khách thể nghiên cứu bao gồm: cán bộ hoạch định chính sách cấp Bộ; cán bộ thực hiện chính sách tại các Sở thuộc thành phố Hà Nội (LĐTBXH, Kế hoạch và Đầu tư, Quy hoạch - Kiến trúc, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường); cán bộ quản lý cơ sở công lập (Trung tâm Bảo trợ xã hội 2 và 3); chủ sở hữu và cán bộ quản lý cơ sở ngoài công lập; các nhà đầu tư đang làm thủ tục cấp phép dự án; và các chuyên gia nghiên cứu chính sách.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Luận án chỉ tập trung vào việc thực hiện các chính sách phát triển cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc NCT lưu trú (gồm trung tâm bảo trợ xã hội công lập và viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc NCT ngoài công lập do tư nhân hoặc tổ chức xã hội, tôn giáo thành lập); không nghiên cứu cơ sở chăm sóc ban ngày và cơ sở tư vấn sức khỏe tổng quát.
  • Không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng giai đoạn 2015-2022; đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến bốn nhóm vấn đề chính:

Các hướng tiếp cận nghiên cứu thực hiện chính sách công: Tác giả Saetren (2005) chỉ ra rằng nghiên cứu thực hiện chính sách đã xuất hiện từ thập niên 1930, trước khi Pressman và Wildavsky (1973) chính thức phổ biến thuật ngữ này. Khởi đầu là tiếp cận định lượng kinh tế của Hotelling (1938) với mô hình toán học tính toán chi phí và phúc lợi trong chính sách, hay nghiên cứu của Bahl và Oates (1978) về ngân sách công tại 12 tiểu bang ở Mỹ. Về phân tích hành vi và quyết định, Simon (1955) phát triển lý thuyết quyết định chính sách dựa trên các phương án lựa chọn và yếu tố tâm lý - chính trị; Appleby (1949) nhấn mạnh yếu tố văn hóa, chính trị trong quản lý công; Lindblom (1959) và Wildavsky (1979) phân tích tác động của các nhóm lợi ích. Thập niên 1970 ghi nhận đóng góp của Kenneth Arrow, Amartya Sen, James Buchanan về đánh giá hiệu quả độc lập của chính sách. Saetren (2014) khảo sát 547 bài báo khoa học và nhận định nghiên cứu thực thi chính sách đã chuyển dịch mạnh mẽ sang phương pháp định tính và nghiên cứu so sánh đối chiếu (Hupe và Saetren, 2015; Wee de Wee, 2012; Tatiana-Camelia, 2013). Đánh giá tổng hợp của Roll và cộng sự (2017) trên 1.500 bài báo giai đoạn 2004-2013 cho thấy có tới 35% nghiên cứu định tính, 21% định lượng; trong đó lĩnh vực an sinh xã hội chỉ chiếm 7% và các nghiên cứu về nhóm đối tượng NCT chỉ chiếm 2%.

Về các khung lý thuyết ảnh hưởng đến thực hiện chính sách, luận án điểm lại các mô hình của Edwards và Sharkansky (1978), Ruth Levitt (1980), Frawley (1977), Halparin, Van Horn và Van Meter (1977), Goggin và Bowman (1990). Trên cơ sở mô hình 5C của Najam (1995) gồm: Nội dung (Content), Bối cảnh (Context), Cam kết (Commitment), Năng lực (Capacity), Liên minh (Clients/coalitions); Brynard (2005) đã bổ sung chữ C thứ 6 là Truyền thông (Communication). Sau đó, Burger (2001) và Cloete, De Coning (2018) bổ sung chữ C thứ 7 là Phối hợp (Coordination), hoàn thiện mô hình 7C. Mô hình này sau đó được Molobela (2016) và Munzhedzi (2020) áp dụng để đánh giá việc thực hiện chính sách dịch vụ công tại các đô thị ở Nam Phi. Tại Việt Nam, các tác giả Lê Chi Mai, Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Trọng Bình, Ngô Ngọc Thắng tập trung phân tích các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách như chất lượng văn bản, năng lực cán bộ, nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan.

Các nghiên cứu về nhu cầu và chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT: Báo cáo của Ủy ban Bảo vệ Xã hội châu Âu (SPC) và Ủy ban Châu Âu (2014), nghiên cứu của Guzman (2012), Dyer và cộng sự (2013) tại Úc, Glinskaya và Feng (2012) tại Trung Quốc đều nhấn mạnh nhu cầu đa dạng hóa các mô hình chăm sóc dài hạn (CSDH) tại nhà, cộng đồng và cơ sở tập trung. Ở Việt Nam, Vũ Ngọc Bình (2015) nhận định hệ thống chăm sóc tại cơ sở tuy ít phổ biến nhưng đang dần hình thành và đòi hỏi phối hợp liên ngành giữa y tế và xã hội; Đào Thúy Hằng và Hoàng Thu Hương (2020) nghiên cứu mô hình bảo trợ xã hội cho NCT của các tổ chức tôn giáo và chỉ ra các hạn chế về chuyên môn, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ.

Các nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT: Nhóm nghiên cứu tại các quốc gia phát triển như Kuzuya và cộng sự (2011), Mah và cộng sự (2013) tại Nhật Bản và Hàn Quốc phân tích tác động của các chương trình chăm sóc dài hạn dựa vào cộng đồng và viện dưỡng lão đối với sức khỏe và chi phí y tế. Tại châu Phi, Belachew và cộng sự (2011) ở Ethiopia, Kalideen và cộng sự (2017) ở Nam Phi ghi nhận sự thiếu hụt tài chính, chênh lệch giữa nông thôn - đô thị và sự thiếu đồng thuận giữa cơ quan y tế và xã hội. Tại châu Á, Feng và cộng sự (2012), Jane P. Chan (2010), Hinton và Chen (2011) đánh giá việc tư nhân hóa, khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức phi lợi nhuận tham gia cung ứng dịch vụ tại Trung Quốc, Singapore. Ở Việt Nam, Đặng Thị Thanh Phúc và cộng sự (2021) phân tích xu hướng dịch chuyển từ chăm sóc gia đình sang viện dưỡng lão; Báo cáo chung ngành y tế (JAHR 2016) của Bộ Y tế và nhóm đối tác sơ đồ hóa các bên liên quan nhưng chưa đánh giá mức độ cam kết và cơ chế phối hợp; báo cáo của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe TP.HCM và UNFPA (2021) chỉ rõ các rào cản về chi phí, nhân lực và mặt bằng đối với thị trường chăm sóc NCT.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình hiện có chưa đi sâu đánh giá việc thực hiện chính sách theo một quy trình quản lý khép kín và chưa áp dụng một công cụ đo lường đa chiều như mô hình 7C để phân tích cụ thể các rào cản thực thi trong lĩnh vực phát triển cơ sở chăm sóc NCT tại một đô thị đặc thù như Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ làm nền tảng phân tích:

  • Người cao tuổi: Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, NCT được xác định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Văn bản phân nhóm NCT thành: nhóm sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên).
  • Cơ sở chăm sóc người cao tuổi: Là các cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng NCT tập trung dài hạn, bao gồm cơ sở công lập (Trung tâm Bảo trợ xã hội) và cơ sở ngoài công lập (viện dưỡng lão, trung tâm dưỡng lão tư nhân hoặc tôn giáo, từ thiện).
  • Khung phân tích của luận án: Luận án tích hợp 5 bước của quy trình thực hiện chính sách với mô hình 7C về các yếu tố ảnh hưởng của Cloete:
    1. Quy trình thực hiện gồm 5 bước: (1) Xây dựng kế hoạch và ban hành văn bản hướng dẫn; (2) Tuyên truyền, phổ biến chính sách; (3) Huy động và bố trí nguồn lực; (4) Phân công và phối hợp liên ngành; (5) Theo dõi, kiểm tra, thanh tra và đánh giá việc thực hiện.
    2. Bảy yếu tố ảnh hưởng (Mô hình 7C): Nội dung chính sách (Content), Bối cảnh (Context), Sự cam kết (Commitment), Năng lực và nguồn lực (Capacity), Đối tác và liên minh (Clients/coalitions), Truyền thông (Communication), Phối hợp liên ngành (Coordination).

Luận án kết hợp 5 phương pháp luận: tiếp cận khái niệm, tiếp cận duy vật lịch sử, tiếp cận so sánh, tiếp cận phân tích chính sách và tiếp cận đánh giá chính sách. Luận án triển khai định hướng nghiên cứu định tính với các kỹ thuật thu thập dữ liệu cụ thể:

  1. Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa hơn 150 tài liệu khoa học, hệ thống văn bản pháp luật, các nghị quyết, quyết định của UBND TP. Hà Nội và số liệu thống kê ngành LĐTBXH.
  2. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiếp cận chọn mẫu có chủ đích và mẫu thuận tiện, dừng mẫu theo nguyên tắc tới hạn thông tin với tổng số 42 đối tượng:
Nhóm đối tượng phỏng vấn Nam Nữ Độ tuổi TB Số năm công tác TB
Cán bộ quản lý cơ sở công lập (TTBTXH 2, 3) 1 1 48 23
Cán bộ quản lý cơ sở ngoài công lập 5 9 44 8
Cán bộ quản lý cơ sở khác 1 2 42 5
Nhà đầu tư xin cấp phép dự án 2 2 45 4
Cán bộ thực hiện chính sách cấp Sở (Sở LĐTBXH) 0 3 42 12
Cán bộ chính sách Sở Kế hoạch và Đầu tư 1 0 46 13
Cán bộ chính sách Sở Tài nguyên và Môi trường 1 0 47 12
Cán bộ chính sách Sở Quy hoạch - Kiến trúc 1 0 43 18
Cán bộ chính sách Sở Tài chính 0 1 45 9
Cán bộ chính sách cấp Bộ 2 3 47 10
Chuyên gia nghiên cứu chính sách 5 2 52 17
Tổng cộng 19 23 -- --
  1. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm với 17 đại biểu tham gia:
  • Nhóm 1 (Khu vực ngoại thành, 5 người): 1 quản lý cơ sở công lập, 3 chủ/quản lý cơ sở tư nhân, 1 nhà đầu tư.
  • Nhóm 2 (Khu vực nội thành, 6 người): 3 chủ cơ sở tư nhân, 1 nhà đầu tư, 2 chủ cơ sở đang làm thủ tục thành lập.
  • Nhóm 3 (Hỗn hợp, 6 người): 2 quản lý cơ sở công lập, 3 chủ/quản lý cơ sở tư nhân, 1 nhà đầu tư đang thành lập cơ sở.
  1. Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu 05 chuyên gia độc lập từ các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức xã hội.
  2. Xử lý dữ liệu định tính: Toàn bộ dữ liệu băng ghi âm và biên bản phỏng vấn được gỡ băng, mã hóa và phân tích theo chủ đề bằng phần mềm NVivo 2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này trình bày bức tranh tổng thể về lý thuyết thực hiện chính sách công từ năm 1930 đến nay, phân định các giai đoạn nghiên cứu từ phương pháp định lượng thuần túy (Hotelling, Bahl và Oates) sang tiếp cận định tính, so sánh đa cấp (Saetren, Hupe). Tác giả làm rõ quá trình phát triển từ mô hình 5C của Najam (1995) đến mô hình 7C hoàn chỉnh của Cloete và De Coning (2018), minh chứng tính phù hợp của công cụ này khi khảo sát việc thực hiện chính sách ở các nước đang phát triển. Chương 1 cũng tổng hợp các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc dài hạn cho NCT tại châu Âu, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số quốc gia châu Phi và Việt Nam. Kết quả điểm luận cho thấy sự thiếu hụt nghiên cứu thực hiện chính sách an sinh đối với NCT (chỉ chiếm 2% tổng số công trình công bố quốc tế theo thống kê của Roll và cộng sự), từ đó xác lập tính cần thiết và khoảng trống nghiên cứu mà luận án đảm nhận.

Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi

Tác giả phân tích các đặc trưng nhân khẩu, kinh tế, xã hội và sức khỏe của NCT tại Việt Nam. Về nhân khẩu, tỷ số giới tính nữ áp đảo ở nhóm người già (nữ chiếm 57,82% với 7,28 triệu người; nam chiếm 42,18% với 5,3 triệu người năm 2021). Nhóm đại lão (từ 80 tuổi trở lên) tăng nhanh với hơn 1,9 triệu người vào năm 2019; tỷ lệ NCT sống tại nông thôn chiếm 63,28%. Về kinh tế, 71,8% nhóm sơ lão, 76,7% nhóm trung lão và 85% nhóm đại lão không có tiền tiết kiệm; thu nhập chủ yếu dựa vào hỗ trợ của con cái (tiết kiệm chỉ chiếm 1% thu nhập). Về sức khỏe, có 11,7% NCT (khoảng 1,47 triệu người) gặp ít nhất một khuyết tật chức năng; tỷ lệ này ở nhóm đại lão là 36,97%. Chương này xác định khung phân tích phối hợp giữa 5 bước thực hiện chính sách và 7 yếu tố ảnh hưởng của mô hình 7C, đồng thời rà soát hệ thống quan điểm, chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam về mạng lưới trợ giúp xã hội.

Chương 3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội

Chương 3 tập trung phân tích thực nghiệm dựa trên dữ liệu thứ cấp và dữ liệu định tính được xử lý qua NVivo 2020:

  • Về địa bàn: Hà Nội có quy mô NCT lớn, tốc độ già hóa nhanh, tuổi thọ bình quân trên 75 tuổi, nhưng cơ sở hạ tầng an sinh cho người già phát triển chậm chạp. Mạng lưới chăm sóc tập trung chỉ gồm 02 cơ sở công lập (Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 và số 3) và 13 cơ sở ngoài công lập có phép, nuôi dưỡng hơn 1.100 người, đáp ứng dưới 2% nhu cầu.
  • Đánh giá theo quy trình thực hiện chính sách:
    1. Xây dựng kế hoạch: Các văn bản của thành phố cơ bản bám sát chỉ đạo Trung ương nhưng thiếu quy hoạch phân bổ quỹ đất cụ thể cho cơ sở dưỡng lão.
    2. Phổ biến, tuyên truyền: Công tác truyền thông chưa đồng bộ, chủ yếu mang tính hành chính nội bộ, người dân và nhà đầu tư khó tiếp cận thông tin về các danh mục ưu đãi.
    3. Bố trí nguồn lực: Ngân sách công chỉ tập trung bảo đảm chi thường xuyên cho đối tượng bảo trợ xã hội bắt buộc tại 2 trung tâm công lập; chính sách xã hội hóa gặp rào cản lớn về thủ tục giao đất, miễn giảm tiền thuê đất và tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi.
    4. Phân công, phối hợp: Thiếu cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa Sở LĐTBXH với các Sở Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Quy hoạch - Kiến trúc, Kế hoạch và Đầu tư, dẫn đến tình trạng ách tắc trong phê duyệt dự án và cấp phép hoạt động chuyên môn y tế.
    5. Theo dõi, đánh giá: Hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ còn hình thức; chế tài xử lý các cơ sở hoạt động chưa có giấy phép (03 cơ sở) chưa đủ sức răn đe và thiếu hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc để các đơn vị này hoàn thiện pháp lý.
  • Đánh giá theo mô hình 7C: Luận án chỉ ra ba yếu tố cản trở lớn nhất là: Nội dung chính sách (tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật của cơ sở chưa sát thực tế, thủ tục ưu đãi đất đai phức tạp), Phối hợp liên ngành (thiếu đầu mối thống nhất điều phối giữa các Sở) và Truyền thông (thiếu minh bạch và thiếu thông tin thị trường).

Chương 4. Giải pháp cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân tại Chương 3, tác giả xây dựng hệ thống các giải pháp định hướng đến năm 2030:

  1. Hoàn thiện quy trình xây dựng kế hoạch và cơ chế ưu đãi: Đưa quy hoạch mạng lưới cơ sở chăm sóc NCT tích hợp vào quy hoạch chung xây dựng Thủ đô; cụ thể hóa danh mục quỹ đất sạch ưu tiên cho xã hội hóa viện dưỡng lão; minh bạch hóa cơ chế hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
  2. Cải thiện công tác truyền thông chính sách: Thiết lập cổng thông tin điện tử công khai về quy hoạch, quy trình thành lập, các tiêu chuẩn và danh mục dự án xã hội hóa kêu gọi đầu tư của thành phố.
  3. Nâng cao năng lực và bố trí nguồn lực: Tăng cường đào tạo chuyên môn công tác xã hội và điều dưỡng lão khoa cho đội ngũ quản lý và nhân viên chăm sóc; thí điểm cơ chế đặt hàng dịch vụ công và hợp tác công - tư (PPP) trong vận hành cơ sở trợ giúp xã hội.
  4. Tăng cường phối hợp liên ngành: Thiết lập quy chế phối hợp liên ngành giữa Sở LĐTBXH, Sở Y tế và các Sở ngành liên quan trong việc thẩm định cấp phép, hỗ trợ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại chỗ cho NCT lưu trú tại cơ sở ngoài công lập.
  5. Củng cố công tác giám sát, đánh giá: Thiết lập bộ công cụ tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ chăm sóc NCT thống nhất; tăng cường kiểm tra liên ngành và có lộ trình hướng dẫn các cơ sở chưa đăng ký chuyển đổi thành cơ sở hợp pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học, luận án đạt được các điểm mới:

  1. Áp dụng thành công khung phân tích tích hợp giữa quy trình thực hiện chính sách 5 bước và mô hình 7C của Cloete vào nghiên cứu thực thi chính sách công tại Việt Nam. Cách tiếp cận này giúp nhận diện chính xác các điểm nghẽn tương ứng ở từng bước thực thi và từng biến số tác động.
  2. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hệ thống khái niệm công cụ về NCT, cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc NCT lưu trú và chính sách phát triển cơ sở chăm sóc trong bối cảnh già hóa dân số tại đô thị lớn.
  3. Nhận diện các yếu tố có tính quyết định đến hiệu quả thực thi chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT tại Hà Nội, trong đó xác định ba nhân tố then chốt nhất là: cơ chế phối hợp liên ngành, nội dung chính sách ưu đãi và công tác truyền thông chính sách.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh số liệu xác thực về mạng lưới cơ sở chăm sóc NCT công lập và tư nhân tại Hà Nội tính đến năm 2022; chỉ ra nguyên nhân khiến chính sách xã hội hóa chưa đạt kỳ vọng; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp gắn với quy hoạch và cải cách thủ tục hành chính tại thành phố Hà Nội định hướng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Do giới hạn về nguồn lực và phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ khảo sát mô hình cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc tập trung dài hạn, chưa bao quát các loại hình chăm sóc ban ngày (day-care) và các trung tâm tư vấn sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng. Về mặt phương pháp, quần thể cán bộ và nhà quản lý cơ sở dưỡng lão tại Hà Nội có quy mô hữu hạn, do đó tác giả áp dụng chọn mẫu phi xác suất (thuận tiện và có chủ đích), dữ liệu chủ yếu là định tính kết hợp phân tích thứ cấp, chưa thực hiện được các khảo sát xã hội học định lượng diện rộng đối với toàn thể NCT và gia đình trên địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi đánh giá sang các mô hình chăm sóc bán trú, chăm sóc ban ngày và chăm sóc kết hợp giữa y tế và công tác xã hội tại gia đình; thực hiện các nghiên cứu so sánh liên địa phương giữa Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh nông thôn; đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính cho bảo hiểm chăm sóc dài hạn (Long-term care insurance) nhằm tạo nguồn lực chi trả bền vững cho người cao tuổi khi tiếp cận các cơ sở dịch vụ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan hoạch định và tổ chức thực thi chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Bộ LĐTBXH trong việc hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn về cơ sở trợ giúp xã hội; cung cấp luận cứ cho UBND TP. Hà Nội, Sở LĐTBXH và các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Quy hoạch - Kiến trúc, Tài nguyên và Môi trường tháo gỡ rào cản về thủ tục giao đất, phê duyệt quy hoạch và giám sát mạng lưới cơ sở chăm sóc NCT.
  • Các nhà đầu tư và chủ cơ sở chăm sóc NCT: Giúp nhận diện rõ quy trình pháp lý, các điểm nghẽn thực tế trong thủ tục cấp phép và cơ hội tham gia cung ứng dịch vụ xã hội hóa.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp mẫu hình nghiên cứu thực thi chính sách công ứng dụng mô hình 7C kết hợp phần mềm NVivo 2020 trong chuyên ngành Chính sách công, Xã hội học và Công tác xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm người cao tuổi và các nhóm tuổi được phân định như thế nào trong luận án?
Luận án căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 xác định người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Trong phân tích chuyên sâu về nhu cầu và sức khỏe, tác giả phân chia NCT thành 3 nhóm lứa tuổi: nhóm sơ lão (60-69 tuổi), nhóm trung lão (70-79 tuổi) và nhóm đại lão (từ 80 tuổi trở lên).

2. Quy mô mạng lưới cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội và toàn quốc được phản ánh qua những con số nào?
Theo số liệu năm 2022 của Bộ LĐTBXH, toàn quốc có 46 cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc NCT (6 công lập, 40 ngoài công lập), nuôi dưỡng 5.788 đối tượng, mới đáp ứng được 0,5% số NCT nghèo cô đơn không nơi nương tựa. Tại Hà Nội, tính đến tháng 3/2022, toàn thành phố có 02 cơ sở công lập và 13 cơ sở ngoài công lập có phép, cùng 03 cơ sở hoạt động chưa đăng ký cấp phép, chăm sóc hơn 1.100 người, đáp ứng dưới 2% nhu cầu thực tế.

3. Khung phân tích lý thuyết mà luận án áp dụng gồm những thành tố nào?
Luận án kết hợp 5 bước trong quy trình thực hiện chính sách (Xây dựng kế hoạch/văn bản; Tuyên truyền phổ biến; Huy động nguồn lực; Phân công phối hợp; Kiểm tra đánh giá) với mô hình 7C của Cloete gồm 7 yếu tố ảnh hưởng: Nội dung chính sách (Content), Bối cảnh (Context), Sự cam kết (Commitment), Năng lực (Capacity), Khách hàng/Liên minh (Clients/coalitions), Truyền thông (Communication), và Phối hợp (Coordination).

4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập và xử lý bằng các công cụ nào?
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng vấn sâu 42 đại biểu (cán bộ cấp Bộ, cấp Sở, nhà quản lý cơ sở công lập, tư nhân, nhà đầu tư, chuyên gia), tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 17 người và tham vấn 5 chuyên gia chính sách. Dữ liệu văn bản và ghi âm được làm sạch, mã hóa và phân tích thông qua phần mềm NVivo 2020.

5. Những nguyên nhân then chốt nào khiến chính sách phát triển cơ sở chăm sóc NCT tại Hà Nội chưa đạt mục tiêu đề ra?
Các nguyên nhân chính bao gồm: chính sách ưu đãi xã hội hóa về giao đất, thuế, vốn vay khó tiếp cận trên thực tế; thiếu sự phối hợp liên ngành giữa ngành LĐTBXH với Y tế, Quy hoạch và Kế hoạch đầu tư; thông tin quy hoạch và tiêu chuẩn thành lập cơ sở chưa được truyền thông rộng rãi; và công tác thanh tra, giám sát chế tài đối với các cơ sở hoạt động không phép còn thiếu kiên quyết.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội" của tác giả Trịnh Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, đánh giá việc thực thi các quy định pháp luật về phát triển mạng lưới viện dưỡng lão và trung tâm bảo trợ xã hội. Bằng việc ứng dụng khung phân tích quy trình chính sách tích hợp mô hình 7C và phương pháp nghiên cứu định tính qua phần mềm NVivo 2020, luận án đã làm rõ thực trạng năng lực đáp ứng dưới 2% của hệ thống cơ sở chăm sóc tại Thủ đô và nhận diện các rào cản về cơ chế phối hợp, chính sách đất đai và truyền thông. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, quản trị an sinh xã hội thích ứng với già hóa dân số tại Hà Nội đến năm 2030.