Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi Chương 3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội Chương 4.
Giải pháp cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các hướng tiếp cận nghiên cứu thực hiện chính sách công Các nghiên cứu về thực hiện CS trên thế giới hiện nay khá đa dạng với nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các thập kỷ qua. Trong một nghiên cứu tổng hợp năm 2005 với tiêu đề bài báo “Sự thật và huyền thoại về nghiên cứu thực hiện chính sách công: Không hợp thời, bị cáo buộc là đã chết, nhưng vẫn còn rất nhiều và có liên quan”, tác giả Saetren [128] đã chỉ ra nguồn gốc của các nghiên cứu về thực hiện CS đã có từ năm 1930, mặc dù đa phần đều tin rằng những nghiên cứu này bắt đầu từ hai tác giả Pressman và Wildavsky [124] bởi hai ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng thuật ngữ “Thực hiện CS” và phổ biến nó.
Tuy nhiên, sự khởi đầu của các nghiên cứu về thực hiện CS đã bắt đầu từ rất sớm với nhiều những khái niệm và cách tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu về thực hiện CS. Đầu tiên phải kể đến cách tiếp cận định lượng dựa trên lý thuyết kinh tế trong nghiên cứu thực hiện CS với công trình nghiên cứu điển hình của Hotelling [98] trong bài báo có tiêu đề "Phúc lợi chung liên quan đến các vấn đề thuế và mức giá của đường sắt và tiện ích" được công bố vào năm 1938. Trong nghiên cứu này, ông đã đưa ra các phương trình toán học để tính toán chi phí đầu tư và thu nhập bình quân đầu người trong các CS. Hướng tiếp cận của Hotelling là sử dụng phương pháp định lượng và lý thuyết kinh tế để nghiên cứu và giải thích tại sao chính phủ lại có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến CS công và đưa ra các phương trình toán học để tính toán chi phí đầu tư và thu nhập bình quân đầu người trong các CS này.
Kết quả nghiên cứu đã giúp ngành kinh tế học hiểu rõ hơn về vai trò của chính phủ trong việc quản lý và thực hiện CS bằng cách đưa ra phương pháp tính toán lợi ích - chi phí, giúp chính phủ đưa ra quyết định hiệu quả hơn trong việc thực hiện các CS công. Tuy nhiên, nghiên cứu này bị giới hạn trong một số khía cạnh như không đưa ra các phân tích chi tiết về các ảnh hưởng khác của CS đối với nền kinh tế - xã hội cũng như không đưa ra các giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề liên quan đến CS. Một nghiên cứu khác của hai tác giả Bahl và Oates [64] có tên “Khía cạnh về Khả năng Tài chính: Một so sánh Quốc tế” được đăng trên tạp chí Public Finance 13 Quarterly vào năm 1978 đã sử dụng mô hình ngân sách chi tiết để phân tích dữ liệu ngân sách của 12 tiểu bang tại Hoa Kỳ từ 1955 đến 1970. Kết quả cho thấy các CS thuế và chi tiêu của tiểu bang có tác động mạnh mẽ đến tình trạng ngân sách, và việc sử dụng mô hình ngân sách chi tiết có thể giúp các tiểu bang đưa ra những quyết định ngân sách chính xác hơn.
Nghiên cứu của Bahl và Oates đã đưa ra một cách tiếp cận phân tích và đánh giá hiệu quả của các CS công bằng cách sử dụng phương pháp tính toán ngân sách chi tiết. Nghiên cứu này đã làm nổi bật vai trò quan trọng của việc quản lý và kiểm soát ngân sách để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của kinh tế. Cùng với cách tiếp cận kinh tế và lợi ích, năm 1955 tác giả Herbert A. Simon đã đưa ra khái niệm "quyết định chính sách" (policy decision), đó là quá trình lựa chọn và triển khai các hành động để giải quyết một vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế hoặc môi trường.
Khái niệm này giúp cho các nghiên cứu về thực hiện CS công tập trung vào quá trình lựa chọn và thực hiện CS thay vì chỉ tập trung vào việc thiết kế CS. Simon đã sử dụng lý thuyết quyết định để giải thích quá trình quyết định CS. Theo lý thuyết này, quyết định được đưa ra dựa trên việc so sánh các tùy chọn khác nhau và đánh giá các hậu quả có thể xảy ra từ mỗi tùy chọn. Để đưa ra quyết định tốt nhất, quá trình quyết định phải dựa trên thông tin đầy đủ và chính xác về tình hình và các tùy chọn có sẵn.
Quá trình quyết định cũng bao gồm các yếu tố tâm lý và chính trị, bởi vì các quyết định CS thường bị ảnh hưởng bởi những quan điểm chính trị, giá trị và lợi ích của các bên liên quan [132]. Với cách tiếp cận xem xét các yếu tố văn hóa, chính trị, xã hội, tác giả Appleby [62] trong cuốn sách "Quản lý công và Lợi ích cộng đồng” đã phân tích một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện CS công, bao gồm cả các yếu tố văn hóa, chính trị và kinh tế. Trong cuốn sách của mình, Appleby đã chỉ ra rằng quyết định CS công không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố văn hóa, chính trị và xã hội. Vì vậy, tác giả khuyến khích các nhà quản lý công và nhà hoạch định CS nên cân nhắc đến các yếu tố này khi thực hiện CS công.
Theo Appleby, để tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của CS công, các nhà quản lý công nên đảm bảo rằng quá trình ra quyết định được thực hiện công khai và minh 14 bạch, và các quyết định này phải được dựa trên những thông tin đầy đủ và chính xác. Cuốn sách của Appleby đã ảnh hưởng đến nhiều nghiên cứu về thực hiện CS công sau này. Nó đã mở ra một hướng tiếp cận mới về việc xem xét các yếu tố văn hóa, chính trị và xã hội trong quyết định CS công, và đã thúc đẩy sự quan tâm đến việc tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của CS công [62]. Tiếp theo là hướng tiếp cận phân tích dựa trên quan điểm các nhóm lợi ích.
Nghiên cứu của hai tác giả Lindblom [110] và Wildavsky [148] đưa ra những phương pháp và hướng tiếp cận tương đồng và mở rộng trong việc phân tích thực hiện CS. Nghiên cứu của Lindblom lấy ví dụ về quyết định CS về nông nghiệp và cho rằng quyết định đó phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích, thông tin và kinh nghiệm của cán bộ lãnh đạo thực hiện CS. Aaron Wildavsky đưa ra khái niệm "nhóm lợi ích" và cho rằng các nhóm lợi ích sẽ có tầm nhìn khác nhau về các CS và sẽ ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ. Nghiên cứu của ông đưa ra một phương pháp phân tích mới về thực hiện CS bằng cách tập trung vào tầm nhìn và quan điểm của các nhóm lợi ích và cách chúng ảnh hưởng đến quyết định CS của chính phủ.
Những phương pháp này cũng giúp chính phủ và các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định CS phù hợp với tầm nhìn của các nhóm lợi ích và các yếu tố xã hội, chính trị và văn hóa khác nhau. Đến những năm 1970, hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả và tính độc lập của CS phát triển mạnh mẽ. Các nghiên cứu về thực hiện CS công bắt đầu tập trung vào các vấn đề về hiệu quả và tính độc lập của các CS, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Các tác giả như Kenneth J.
Arrow, Amartya Sen, và James M. Buchanan đã đưa ra các quan điểm về việc đánh giá hiệu quả của các CS công và ý nghĩa của tính độc lập của các quyết định CS. Các tác giả cho rằng việc đánh giá hiệu quả của các CS công không chỉ dựa trên các chỉ tiêu kinh tế, việc đánh giá hiệu quả của các CS công phải dựa trên sự đánh giá đa chiều về các yếu tố liên quan như môi trường và xã hội cũng như tính độc lập và tiêu chuẩn về trách nhiệm của chính phủ. Sau này, trong công trình nghiên cứu của 2 tác giả Pressman và Wildavsky [124] vào những năm 1970, thuật ngữ “thực hiện chính sách công” chính thức được ra đời với ý nghĩa mô tả quá trình chuyển đổi các CS thành hành động thực tế.
Từ đó, 15 các nghiên cứu về thực hiện CS công đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp và đa dạng, với nhiều cách tiếp cận khác nhau hơn. Các nghiên cứu này bao gồm các phương pháp kết hợp định tính và định lượng, phân tích đa cấp, phân tích mạng lưới, phân tích CS, đánh giá tác động, và nghiên cứu trường hợp. Từ những năm 1980 trở đi, sự phát triển của các nghiên cứu sau đó tiếp tục đạt đỉnh và sụt giảm phần nào. Nhưng các học giả như Goggin và cộng sự [91] tỏ ra khá lạc quan về tương lai của các nghiên cứu được triển khai ở giai đoạn tiếp theo.
Các tác giả dự đoán rằng mối quan tâm có thể sẽ tăng lên trong suốt những năm 1990 và tiếp tục nhiều hơn trong thế kỷ 21. Với nghiên cứu được thực hiện năm 2014, tác giả Saetren [127] đã khẳng định nghiên cứu về thực hiện CS công vẫn còn tồn tại và đã phát triển tốt hơn vào thế kỷ 21. Xu hướng nghiên cứu thực hiện CS công hiện nay thể hiện ở ba khía cạnh: đa dạng hoá các cách gọi thay thế khái niệm thực hiện CS công, xu hướng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, so sánh đối chiếu và hướng tiếp cận đánh giá thực hiện CS bằng công cụ nghiên cứu cụ thể. Ở khía cạnh thứ nhất, các học giả nhận thấy từ thế kỷ 21, nghiên cứu về thực hiện CS lại quay trở lại, nhưng được nghiên cứu dưới những khái niệm mới và khác nhau như: quản trị mới; các công cụ và thiết kế CS; nghiên cứu mạng lưới; thuê ngoài; hợp tác công tư; tính quan liêu cấp xã/phường; quản lý; quản lý công mới; các nghiên cứu về tác nhân chính; hiệu quả hoạt động; thực thi quy định; và tuân thủ [149].
Ở khía cạnh thứ hai, xu hướng nghiên cứu thực hiện CS công trên thế giới hiện nay là tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính mặc dù lý tưởng nhất là kết hợp cả định tính và định lượng.