Luận án về giải pháp giảm nghèo bền vững tại Hà Nội

Khám phá luận án về giải pháp giảm nghèo bền vững tại Hà Nội, phân tích thực trạng và đề xuất các biện pháp hiệu quả cho cộng đồng.

Chuyên ngành

Giảm Nghèo Bền Vững

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

185
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. MỞ ĐẦU

2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT TIẾP CẬN

3.1. Lý thuyết công bằng của Rawls

3.2. Tiếp cận dựa trên năng lực của Amartya Sen

3.3. Cách tiếp cận lợi ích (vị lợi)

3.4. Lý thuyết của trường phái phúc lợi

4. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Cách tiếp cận

4.2. Phương pháp nghiên cứu

4.2.1. Phương pháp luận

4.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu

4.2.3. Phương pháp phân tích

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình trạng nghèo tại Hà Nội

Tình trạng nghèo tại Hà Nội đã trở thành một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Giảm nghèo bền vững không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng mà còn là một trong những mục tiêu chính của các chính sách phát triển. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ nghèo tại Hà Nội đã giảm đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Đặc biệt, nghèo ở đô thị thường có nhiều hình thức phức tạp, từ thu nhập thấp đến thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này đòi hỏi các giải pháp phát triển bền vữngchính sách xã hội phù hợp để đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội phát triển. Việc phân tích tình trạng nghèo đa chiều sẽ giúp nhận diện rõ hơn các vấn đề và từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả.

1.1. Đặc điểm của nghèo đô thị

Nghèo đô thị tại Hà Nội có những đặc điểm riêng biệt so với các khu vực nông thôn. Người nghèo ở đô thị thường phải đối mặt với chi phí sinh hoạt cao hơn, trong khi thu nhập lại không ổn định. Nhiều người lao động tự do, như công nhân, người bán hàng rong, và trẻ em lang thang, không có bảo hiểm xã hội và không được tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản. Điều này dẫn đến tình trạng tăng cường cơn nghèotái nghèo. Các chính sách hiện tại chưa đủ mạnh để giải quyết những vấn đề này, do đó cần có sự cải cách trong chương trình xóa đói giảm nghèo để phù hợp với thực tế đô thị.

II. Các giải pháp phát triển kinh tế bền vững

Để giảm nghèo bền vững tại Hà Nội, cần có các giải pháp phát triển kinh tế đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp họ có khả năng tạo ra việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư vào giáo dụcđào tạo nghề, giúp người nghèo có cơ hội nâng cao kỹ năng và cải thiện thu nhập. Các chương trình hợp tác xã cũng cần được khuyến khích để tạo ra các mô hình kinh doanh bền vững, từ đó giúp người dân có thể tự lập và thoát nghèo. Việc xây dựng các chính sách xã hội hỗ trợ cho nhóm người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, cũng là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện giải pháp phát triển bền vững.

2.1. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề

Giáo dục và đào tạo nghề là chìa khóa để giảm nghèo bền vững. Cần có các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, giúp người nghèo có thể tìm kiếm việc làm ổn định. Việc đầu tư vào giáo dục không chỉ giúp nâng cao trình độ dân trí mà còn tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế. Các chương trình học bổng và hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên nghèo cũng cần được triển khai để đảm bảo mọi người đều có cơ hội tiếp cận giáo dục.

III. Chính sách hỗ trợ xã hội

Chính sách hỗ trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo bền vững. Cần có các chương trình hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo, giúp họ có thể trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, việc cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí hoặc giá rẻ cho người nghèo cũng là một giải pháp cần thiết. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ cũng cần được triển khai để tạo ra việc làm cho người dân. Việc xây dựng các chính sách xã hội toàn diện sẽ giúp người nghèo có cơ hội phát triển và thoát nghèo một cách bền vững.

3.1. Hỗ trợ tài chính cho hộ nghèo

Hỗ trợ tài chính cho hộ nghèo là một trong những giải pháp quan trọng để giúp họ vượt qua khó khăn. Cần có các chương trình cho vay ưu đãi, giúp người nghèo có thể đầu tư vào sản xuất hoặc kinh doanh. Bên cạnh đó, việc cung cấp các gói hỗ trợ khẩn cấp trong trường hợp thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế cũng rất cần thiết. Các chính sách này không chỉ giúp người nghèo cải thiện đời sống mà còn góp phần ổn định xã hội.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài 1. Nghèo và các chiều cạnh của nghèo nói chung Từ nhiều quan niệm đúc kết cho thấy nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và mang tính toàn cầu. Chẳng hạn, Phil Bartle cho rằng “Nghèo đói được coi là một vấn nạn xã hội” - là một vấn đề trầm trọng của xã hội, do đó cần phải có những giải pháp mang tính xã hội.

Nghèo đói không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà ở cả các quốc gia kinh tế phát triển. Tuy nhiên tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia khác nhau [78]. Trong một bối cảnh chung, chúng ta có thể đặt ra nhiều lý do vì sao cần quan tâm đến nghèo đói. Chẳng hạn như (i) Về đạo đức (cần đảm bảo mức sống tốt cho mọi người); (ii) Về kinh tế (càng ít nghèo càng tiêu dùng nhiều hơn, càng sản xuất nhiều hơn, càng tăng trưởng cao hơn); (iii) Về ngân sách (càng ít nghèo đói, càng ít thất nghiệp, chi tiêu công càng ít, các khoản thu từ thuế càng tăng); (iv) Về chính trị (nghèo càng giảm, bất bình đẳng xã hội càng giảm, càng giảm chi phí cho y tế cộng đồng), [81].

O đã cho rằng nghèo “là sự thiếu hoàn toàn các cơ hội, đi kèm với mức độ cao của nghèo đói là suy dinh dưỡng, mù chữ, thiếu giáo dục, các bệnh về thể chất và tinh thần, bất ổn về tình cảm và xã hội, là bất hạnh, đau khổ và tuyệt vọng cho tương lai”. Một trong những đặc trưng của nghèo đói là thiếu hụt lâu dài sự tham gia kinh tế, xã hội và chính trị, đẩy các cá nhân đến chỗ bị loại ra khỏi xã hội, cản trở đến sự tiếp cận với những lợi ích của phát triển kinh tế và xã hội và do đó hạn chế sự phát triển văn hóa của họ [80]. Công phu trong quá trình theo đuổi, tìm hiểu về nghèo đói trên phạm vi toàn cầu Ngân hàng thế giới [52], cũng đã chỉ ra “Bản chất của đói nghèo là đa chiều”. Với khẳng định này, WB cũng chỉ ra một số khía cạnh rất cụ thể của nghèo đói: Thứ nhất, nghèo là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo thu nhập hoặc tiêu dùng, hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đói nghèo là về thu nhập.

Thứ hai, là thiếu thốn sự hưởng thụ về giáo dục và y tế. Thứ ba, nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình, hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập, hoặc về sức khỏe. Cuối cùng, là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo. Với phát hiện về nghèo mang tính đa chiều, vì thế WB đã đề xuất 3 trụ cột quan trọng trong chiến lược tấn công đói nghèo đó là (1) Tạo cơ hội, (2) trao quyền, (3) thiết lập mạng lưới an sinh xã hội.

Nghiên cứu này của WB đã chỉ ra bản chất 12 nghèo hoàn toàn bằng cách tiếp cận mới đa chiều, đây là một cơ sở lý luận tốt hơn cho các giải pháp GN toàn diện. Như vậy, sự nhìn nhận về nghèo ngày càng được bám sát đúng với thực trạng để nhìn rõ hơn bản chất của nghèo. Đây là những cơ sở khoa học rất quan trọng cho giải pháp GNBV. Nhìn nhận vấn đề nghèo đói trong khía cạnh phát triển, từ thuyết “Phát triển là tăng trưởng kinh tế” được Amartya Sen [56], thay bằng thuyết “Phát triển là mở rộng quyền lựa chọn”, cho thấy, sự PTBV bao hàm sự phát triển văn hoá, giáo dục, sức khoẻ, sự mở rộng quyền tham gia quản lý xã hội, quyền lựa chọn các cơ hội, nâng cao năng lực thực hiện các quyền và thực hiện các quyết định đã lựa chọn cho mọi người [56].

Xem xét mối quan hệ giữa giải quyết nghèo đói trong tăng trưởng, theo nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng, nghiên cứu về nghèo đói đặt trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế ở những nước chậm phát triển và những nước đang phát triển trong nửa cuối thế kỷ 20 đã đưa ra một trong những kết luận rất có ý nghĩa liên quan đến người nghèo đó là “Hãy bắt đầu từ những người nghèo khổ” [26]. Theo quan điểm này, tăng trưởng kinh tế bắt đầu không phải từ việc vay vốn, hay đổi mới kỹ thuật đơn thuần, điều quan trọng hơn là tìm hiểu những khó khăn, những mối quan tâm của người nghèo và tìm cách giúp người nghèo phát triển năng lực để họ tự xoá đói, GN [1] và các khía cạnh của nghèo khổ được chỉ ra bởi các biểu hiện: sự thiếu thốn các phương tiện vật chất để sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của cá nhân và hộ gia đình; sự thất học, ốm đau bệnh tật; sự cô lập, hoặc bạo lực gia đình, các vấn đề này có thể gây thất nghiệp và giảm thu nhập dẫn đến sự nghèo đói [56]. Điều đáng ghi nhận của nghiên cứu này đối với nghèo là chỉ ra việc muốn giúp người nghèo thoát nghèo cần hiểu được mong muốn của họ và giúp họ phát triển năng lực để tự xóa đói, GN, như vậy tăng trưởng mới thực sự có ý nghĩa. Tác giả cho rằng đây là một trong những giải pháp rất quan trọng để thực hiện GNBV nói chung.

Các vấn đề của nghèo ở đô thị Xuất phát từ những lý luận nền tảng của nghèo đói để nghiên cứu về những vấn đề của nghèo ở đô thị, nhiều quan niệm, định nghĩa về nghèo ở đô thị đã cho thấy nghèo ở đô thị được chú ý đến như một dạng nghèo đặc trưng. Cụ thể, đối với người nghèo đô thị họ không phải là một nhóm đồng nhất và có ba cách để phân biệt người nghèo đô thị [88]. Trước tiên, "người nghèo mới", xác định bằng cách xem gần đây ai đã bị nghèo khổ. Thứ hai "đường nghèo", xác định ai là người lao động nhưng chưa có tay nghề và bị nằm dưới đường nghèo khổ.

Thứ ba "nghèo kinh niên", xác định là những người nghèo trong năm hoặc nhiều năm qua 1 Cách tiếp cận này đã được Robert Chambers, Amartya Sen và các đồng sự viết sách xuất bản vào những năm 1980. 13 vàcó thể bị bần cùng hóa do quá trình di cư đến các thành phố chứ không phải là nghèo từ chính bản thânđô thị. Hơn nữa, nghiên cứu còn cho thấy nghèo trẻ em chiếm một tỷ lệ % lớn trong các dân cư nghèo đô thị. Ví dụ, ở Bangladesh, đa số dân cư nghèo là người dưới mười lăm tuổi, [71].

Người nghèo đô thị là khá đa dạng giữa các khu vực, các quốc gia và thậm chí cả trong các thành phố. Etal cho thấy người nghèo ở đô thị đều có xu hướng phải đối mặt với những thiếu thốn phổ biến, ảnh hưởng đến cuộc sống của họ mỗi ngày, như: (i) Hạn chế trong sự tiếp cận tới thu nhập và việc làm, (ii) Điều kiện sống không đầy đủ và không an toàn, (iii) Cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghèo, (iv) Dễ tổn thương trước các rủi ro như thiên tai, nguy cơ rủi ro từ môi trường và đặc biệt sức khỏe khi sống trong các khu nhà ổ chuột, (v) Các vấn đề về không gian làm hạn chế sự di chuyển và vận chuyển, (vi) Bất bình đẳng gắn liền với các vấn đề bị loại trừ, [97]. Baker, J khi xem xét cốt lõi của sự nghèo đói không chỉ ở đô thị mà ở cả nông thôn đã cho rằng nghèo “chính là sự hạn chế quyền tiếp cận vào thu nhập và cơ hội của việc làm” [77]. Trong khi đó nền kinh tế đô thị cung cấp nhiều cơ hội cho nhiều người và là cơ sở cho sự tăng trưởng và tạo việc làm, nhưng không phải tất cả những người sống ở các thành phố đều được hưởng lợi từ những cơ hội này.

Người nghèo đô thị phải đối mặt những thách thức: kỹ năng thấp, lương thấp, thiếu việc làm và thất nghiệp, thiếu bảo hiểm xã hội và các điều kiện làm việc không đạt yêu cầu. Đối với một số quốc gia, người nghèo đô thị đặc biệt dễ bị tổn thương trước những cú sốc, do: vị trí không gian của các khu nhà ổ chuột, cơ sở hạ tầng không đầy đủ, sự tiêu cực, sự kỳ thị làm hạn chế tới khả năng tiếp cận việc làm và sự phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế tiền mặt (tập trung chủ yếu vào việc kiếm tiền). Trên nền tảng lý thuyết cơ bản của Amartya Sen về những chiều cạnh của nghèo đói, với ý tưởng cốt lõi trong khuôn khổ lý thuyết là “khả năng” và “hạnh phúc”, Montgomery, M đã đi sâu hơn vào khía cạnh “hạnh phúc” ở khu vực đô thị, đặc biệt là sức khỏe và khẳng định các hộ ở đô thị không nghèo về thu nhập mà là những khía cạnh khác quan trọng hơn của sự hạnh phúc đó là: tiếp cận các dịch vụ công (nước, vệ sinh, y tế), các vấn đề của khu nhà ổ chuột, bạo lực, tội phạm, tệ nạn [90],… Ngân hàng Thế giới [113], cũng cho thấy, người nghèo ở đô thị luôn sống với nhiều thiếu thốn, dễ bị tổn thương hoặc dễ nhạy cảm với các rủi ro và nghiên cứu đã đưa ra những đặc trưng của nghèo đô thị như: (i) Hạn chế tiếp cận với giáo dục và việc làm, (ii) Tài chính không đủ, (iii) Thiếu cơ chế bảo vệ người nghèo, (iv) Không đủ quyền tiếp cận vào các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, (v) Thiếu nhà ở an toàn và các dịch vụ tiện ích, (vi) Những nguy cơ rủi ro cao từ môi trường. 14 Bởi vậy, Warshawsky, D.

N cũng đã khẳng định: có nhiều người nghèo nhất ở trong lòng thành phố và một số người dân sống trong các hoàn cảnh dễ bị tổn thương nhất và tuyệt vọng nhất đang sống trong khu vực thành thị [108]. Cùng đó là một loạt các thiếu thốn của nghèo đô thị như: hạn chế tiếp cận cơ hội việc làm ở khu vực chính thức, thu nhập dành cho nhà ở không đảm bảo và không an toàn, ít cơ chế bảo trợ xã hội, hạn chế tiếp cận với các dịch vụ cơ bản và không đảm bảo sức khỏe, thậm chí bạo lực, môi trường sống không tốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Giải pháp giảm nghèo bền vững tại Hà Nội" từ Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân năm 2023 tập trung vào việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm nghèo một cách bền vững trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của thủ đô. Bài viết không chỉ phân tích nguyên nhân và hệ quả của tình trạng nghèo đói mà còn đưa ra những phương pháp cụ thể để cải thiện đời sống cho người dân, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về chính sách và chiến lược giảm nghèo, cũng như các mô hình thực tiễn có thể áp dụng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế và phát triển bền vững, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn tại vùng thu hồi đất Hà Nội, nơi đề cập đến các chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên, một yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh Saravanh, Lào cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nghèo đói từ góc độ đa chiều, giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của vấn đề này. Cuối cùng, Chính sách phát triển kinh tế bền vững đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên sẽ là một nguồn tài liệu quý giá về cách thức phát triển kinh tế bền vững cho các nhóm dân cư thiểu số, từ đó có thể áp dụng cho các chính sách tại Hà Nội.