Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tín dụng cho vay đối với hộ nghèo của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác tín dụng cho vay đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội thành phố Hà Nội 2009-2012. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tín dụng cho vay đối với hộ nghèo tại chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Tổng quan về hộ nghèo và sự cần thiết phải giảm nghèo ở Việt Nam 1. Khái niệm về đói- nghèo Vấn đề đói, nghèo được nhiều tổ chức trên thế giới nghiên cứu và từ đó đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về đói – nghèo. Tháng 9/1993 tại Hội nghị về xoá đói giảm nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức đã đưa ra khái niệm về nghèo như sau: “ Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Năm 1998, trong báo cáo của UNDP nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã nêu: Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ. Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu.
Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác. Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo những chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác. Ngưỡng này có thể tăng lên đồng thời với thu nhập.
Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ được xác định bằng một chuẩn mực cố định. Chẳng hạn như ngưỡng quốc tế của sự nghèo khổ là 1 USD/ người/ ngày. Để xác định được mức đói nghèo về mặt định lượng, người ta thường dùng các chỉ tiêu để đo lường trực tiếp xem người đó có cuộc sống ở mức độ nào đối với những điều kiện cơ bản như nước sạch, có đủ thức ăn, điều kiện khám chữa bệnh, học hành và những tiêu chuẩn khác. 11 Để đưa ra tiêu chí xác định mức nghèo cần thiết có khái niệm chuẩn đói nghèo.
Chuẩn đói nghèo là tổng hợp giá trị hoặc khối lượng vật chất tối thiểu mà cá nhân hoặc hộ gia đình ở dưới mức đó được coi là nghèo. Việc xác định mức này là một vấn đề chủ quan gây khó khăn cho việc so sánh giữa các nước. Vì sự nghèo đói thay đổi theo tiêu chuẩn của mức sống xét theo thời gian và khu vực. Ba nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới là Montek S.
Carter và Hollis B. Chenery đã đưa ra ranh giới nghèo đói dựa trên tiêu chuẩn thiết lập ở Ấn Độ đó là mức thu nhập cần thiết để có được mức cung cấp hàng ngày là 2250 calo tính trên đầu người. Như vậy, những người có mức cung cấp hàng ngày dưới 2250 calo là những người đói, nghèo. Việc đo lường nghèo đói theo tiêu thức này hiện nay bị coi là phiến diện vì nó không đo lường được nhu cầu của người nghèo về lĩnh vực văn hoá, tinh thần, y tế, giáo dục.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường việc đo lường chuẩn mực đói nghèo thường được căn cứ theo đơn vị tiền tệ. Như Ngân hàng thế giới đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của quốc gia bằng mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người. Theo cách đánh giá này thì những nước có mức thu nhập bình quân đầu người từ 500 USD/người/ năm đến 2.500 USD/người/ năm là nước nghèo, còn dưới 500 USD/ người/ năm là nước cực nghèo. Khái niệm đói nghèo có thể thống nhất về mặt định tính, nhưng không thể có một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tất cả các quốc gia, thậm chí trong từng quốc gia thì chuẩn mực đói nghèo cũng lại rất khác nhau giữa các vùng.
Chuẩn mực về đói nghèo thay đổi theo thời gian tương ứng với sự phát triển của kinh tế- xã hội. Những đặc trưng của hộ nghèo ở Việt Nam * Hộ nghèo là hộ được quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau:[11] Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân đầu người từ 400.000đ/ người/tháng (từ 4.000 đ/người/ năm) trở xuống. Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân đầu người từ 500.000 đ/ người/ tháng (Từ 6.000 đ/người/năm) trở xuống. - Những hộ gia đ ình nghèo thường là những hộ gia đình thiếu việc làm, hoặc những người làm việc có tính thời vụ, hoặc do vấn đề sức khoẻ nên không có cơ hội tiếp cận với việc làm hoặc không thể tự tạo ra việc làm.
Vì vậy, thường có thu nhập không ổn định, thu nhập thấp không đủ để trang trải những khoản chi tiêu cho cuộc sống, do đó rơi vào tình trạng nghèo đói. 12 - Những người sống ở nông thôn, có thể vẫn có sức khoẻ, có ruộng vườn nhưng do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất, nên họ không biết cách tổ chức làm ăn, hoặc làm ăn theo kiểu “thuần nông”, những người này vẫn có nguy cơ rơi vào tình trạng hộ nghèo. Hoặc những hộ gia đ ình gặp những điều không may trong cuộc sống buộc phải cầm cố hoặc phải bán đất sản xuất, vì vậy rơi vào tình trạng nghèo đói. - Đa số người nghèo do không có điều kiện học hành nên thường có trình độ học vấn thấp, điều này làm hạn chế việc tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến cùng việc nắm bắt những thông tin về thị trường, nên sản xuất thường đạt hiệu quả thấp.
- Những hộ nghèo đa số lại là những hộ gia đình đông con, do đó con em của họ ít được học hành, ít được tiếp cận với những dịch vụ ytế, nên thường ốm đau, bệnh tật. Cuộc sống của hộ nghèo thường rơi vào vòng luẩn quẩn: đói ngh èo- ốm đau - đói nghèo…hết thế hệ này đến thế hệ khác. - Những hộ nghèo thuộc vùng dân tộc ít người do giao thông không thuận tiện nên chịu nhiều bất lợi do sự tách biệt về mặt địa lý, khó được tiếp cận với cuộc sống văn minh, nên cuộc sống vẫn rất lạc hậu, sống du canh du cư, chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, thu nhập không đủ sống. - Còn ở thành thị những người nghèo thường là những người không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định, hoặc có tính chất thời vụ, lại chịu cảnh giá cả cao hơn các vùng nông thôn và miền núi vì ở thành thị thường tập trung những người có thu nhập cao, sự phân hoá giàu nghèo rất sâu sắc.
Nguyên nhân của đói nghèo 1. Nguyên nhân khách quan - Nền kinh tế thị trường và quá trình phân hoá giàu nghèo: Trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các nhà sản xuất là lợi nhuận. Để tối đa hoá lợi nhuận, các nhà sản xuất phải luôn cạnh tranh với nhau. Quy luật cạnh tranh tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, dưới tác động của quy luật cạnh tranh có kẻ thắng và người thua, người thắng cuộc trở thành người giàu có, người thua cuộc bị phá sản rơi vào cảnh nghèo đói bần cùng.
Sự phân hoá giàu nghèo này là kết quả tất yếu của cơ chế thị trường, đây là mặt trái của cơ chế thị trường. Do đó, để khắc phục điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước. 13 - Do dân số tăng nhanh và vấn đề thiếu việc làm: Lao động từ dân số mà ra, dân số càng tăng nhanh th ì tỷ lệ gia tăng của lực lượng lao động xã hội ngày càng nhiều. Những nước đang phát triển thường có tốc độ tăng dân số khá nhanh, trong khi đó tốc độ tăng trưởng của sản xuất thường chậm, quy mô mở rộng của sản xuất lại không thể đáp ứng hết số lao động tăng thêm hàng năm.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay lại có xu hướng sử dụng ít lao động hơn nhưng trình độ lao động lại cao hơn. Các nước nghèo thường có tỷ lệ thất nghiệp cao và đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo, dẫn đến mất ổn định xã hội. Vấn đề giải quyết việc làm hiện nay ở các nước nghèo là vấn đề khá nan giải, vì các nước này nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, lao động có trình độ kỹ thuật thấp, đặc biệt là lao động ở nông thôn và miền núi. Đây là nguyên nhân dẫn đến số hộ nghèo ở nông thôn và miền núi cao hơn nhiều ở thành thị.
Do đó, giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định, thường xuyên là vấn đề đang được đặt ra khá bức thiết cho những nước đang phát triển. Giải quyết việc làm cho người lao động là giải pháp quan trọng nhất để giải quyết vấn đề đói nghèo. - Nguyên nhân của chiến tranh: Một quốc gia liên tục chịu đựng những cuộc chiến tranh do bị xâm lược hoặc nội chiến kéo dài, làm cho nguồn lực tài chính quốc gia bị cạn kiệt, tài nguyên môi trường bị phá huỷ, nguồn nhân lực bị tổn thất, nhiều người bị thương, bị di chứng của chiến tranh dẫn đến mất khả năng lao động. Đây là những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo.
- Điều kiện tự nhiên, môi trường : Những vùng có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, thông tin lỉên lạc không thuận lợi, làm cho kinh tế chậm phát triển. Hoặc những vùng khí hậu khắc nghiệt, thiên tai luôn xảy ra như lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh…làm cho một bộ phận dân cư luôn lâm vào tình trạng không nhà cửa, bệnh tật, nghèo đói triền miên.