Chương 1 – Cơ sở lý luận Chương này xây dựng khung lý thuyết về chính sách ngôn ngữ và các thông tin nền tảng liên quan đến chính sách tiếng Anh ở Thái Lan. Có 3 nội dung được làm rõ trong chương này, bao gồm: (1) một số vấn đề lý thuyết cơ bản về chính sách ngôn ngữ, (2) vị trí và vai trò của tiếng Anh trong bối cảnh hiện nay và (3) khái quát về Thái Lan trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, hệ thống giáo dục và cảnh huống ngôn ngữ. Chương 2 – Chính sách ngôn ngữ về tiếng Anh của Thái Lan Như đã đề cập ở trên, ở Thái Lan, giáo dục tiếng Anh là khía cạnh thể hiện rõ nhất chính sách ngôn ngữ về tiếng Anh. Vì thế, lịch sử giáo dục tiếng Anh ở Thái Lan với các chủ trương và biện pháp ở từng thời kỳ là nội dung chủ đạo của chương này.
Ngoài ra, mảng giáo dục song song ngữ ở Thái Lan cũng được đề cập một cách khái quát như là một phần của chính sách ngôn ngữ về tiếng Anh ở quốc gia này. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 3 – Nhìn nhận về chính sách giáo dục tiếng Anh ở Thái Lan và liên hệ Việt Nam Chương này chỉ ra những bất cập trong việc thực thi chính sách đối với tiếng Anh của Thái Lan, từ đó đặt ra một số vấn đề để nâng cao hiệu quả của việc giáo dục tiếng Anh ở Thái Lan hiện nay. Liên hệ trường hợp của Việt Nam, chương 3 cũng đề cập những chủ trương và biện pháp đã thực hiện của chính phủ Việt Nam đối với giáo dục tiếng Anh. Một số gợi ý để phát huy hiệu quả các hoạt động thực thi chính sách đối với giáo dục tiếng Anh trong bối cảnh hội nhập quốc tế đã được đưa ra.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số vấn đề lý thuyết cơ bản về chính sách ngôn ngữ 1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ Chính sách ngôn ngữ (sau đây viết tắt là CSNN) là chính sách thuộc phạm vi ngôn ngữ. Chính vì vậy, khái niệm chính sách ngôn ngữ trước tiên cần phải được xây dựng trên cơ sở của khái niệm chính sách, tức là phải đảm bảo được các yếu tố cấu thành chính sách.
Sự nhất quán từ chính sách nói chung đến chính sách ngôn ngữ nói riêng được thể hiện trong Bảng 1 dưới đây: Yếu tố cấu Chính sách Chính sách ngôn ngữ thành Thực tiễn, gắn với định hướng và Thực tế của đời sống ngôn ngữ ở (1) Cơ sở trong mối quan hệ với các chính một giai đoạn nhất định (tức là sách khác cảnh huống ngôn ngữ) Không có chính sách chung chung Phải nằm trong mối tương quan mà chỉ có chính sách cho từng lĩnh chung với chính sách về các vấn (2) Phạm vi vực cụ thể đề khác của cộng đồng như kinh tế, giáo dục, dân tộc,. Gồm hai nội dung là những chuẩn Có hai bộ phận hợp thành: chủ tắc cụ thể và các biện pháp/kế trưởng chính trị về ngôn ngữ và (3) Nội dung hoạch để thực hiện các chuẩn tắc sự thực thi chủ trương đó đó Có tính giai đoạn, gắn với hoàn Có tính giai đoạn; có thể ở cấp (4) Thời gian và cảnh cụ thể địa phương hoặc cấp trung ương không gian trong phạm vi quốc gia hoặc một tổ chức liên minh xuyên quốc gia Về lý thuyết có thể là chính phủ, tổ Có thể do nhà nước hoặc tổ chức (5) Chủ thể ban chức và cá nhân. Tuy nhiên, hầu chính trị nào đó đưa ra hành hết ý kiến đều cho rằng chủ thể đưa ra chính sách phải là nhà nước Bảng 1– Yếu tố cấu thành khái niệm chính sách và chính sách ngôn ngữ (Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr.13&15) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ sở nêu trên giúp cho việc đánh giá khách quan các định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu về CSNN, từ đó đi đến thống nhất về khái niệm chính sách ngôn ngữ được sử dụng trong nghiên cứu này. Kể từ khi thuật ngữ Chính sách ngôn ngữ (Language policy) xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (Sociolinguistics) của J.
Fishman viết năm 1970 bằng tiếng Anh (Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr.13-14), cho đến nay đã có không ít định nghĩa được các nhà nghiên cứu đưa ra nhằm làm rõ bản chất của chính sách ngôn ngữ. Có thể dẫn ra một số quan điểm tiêu biểu như: Về vị trí, CSNN được cho là “một bộ phận hữu cơ trong chính sách dân tộc của một nhà nước, một giai cấp hay một đảng phái nào đó” và là “bình diện ngôn ngữ trong chính sách (cương lĩnh) của đảng và nhà nước về vấn đề dân tộc” (Avrorin, 1970, dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr. Quan điểm này đã dẫn tới một số vấn đề cần làm sáng tỏ. Thứ nhất là phải chăng CSNN được quy định chỉ bởi chính sách dân tộc và nhằm giải quyết những vấn đề thuộc phạm trù dân tộc? Thứ hai là nếu CSNN được coi là một bộ phận hữu cơ của chính sách dân tộc thì có hay không có CSNN ở các quốc gia đơn dân tộc? Với tư cách là một trong những phương tiện thực hiện chủ trương chính trị của một nhà nước, một đảng phái trong lĩnh vực ngôn ngữ và trong các lĩnh vực hoạt động khác, CSNN có mặt ở tất cả các quốc gia.
Tuy nhiên nội dung của CSNN ở hai loại hình quốc gia nói trên là không giống nhau. Tác giả Nikolskij (1982) thì khẳng định “CSNN là một bộ phận trong chính sách đối nội của giai cấp thống trị nhà nước trong một quốc gia nhất định” (dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr. Như vậy, tác giả đã xem xét CSNN không chỉ trong mối quan hệ với chính sách dân tộc mà còn trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác thuộc phạm vi hoạt động đối nội của nhà nước. Quan niệm này phù hợp với thực tế hơn nhưng lại không đủ cơ sở để giải thích nhiều quá trình ngôn ngữ và văn hoá đã và đang diễn ra ở nhiều nuớc như quá trình tiêu diệt các ngôn ngữ bản địa, song song với nó là quá trình đề cao địa vị của ngôn ngữ thực dân, biến nó thành công cụ áp bức dân tộc, bành truớng văn hoá, cạnh tranh thị trường.của chủ nghĩa Ðế quốc Mỹ, chủ nghĩa thực dân mới và cũ trên lục địa châu Phi và châu Mỹ La tinh.
Về nội dung, V. Avrorin (1970) xác định “CSNN là hệ thống biện pháp nhằm tác động một cách có ý thức để điều chỉnh mặt chức năng của ngôn ngữ và thông qua đó 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác động đến cấu trúc ngôn ngữ ở một chừng mực nhất định” (dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr. Tương tự, Nikolskij (1982) cũng nhấn mạnh vào hệ thống các biện pháp trong định nghĩa của mình khi ông cho rằng “CSNN có bình diện lý thuyết của nó, phụ thuộc vào chính sách của xã hội (của nhà nước) và bình diện thực tiễn, tức là toàn bộ các biện pháp ngôn ngữ cụ thể được thi hành để thực hiện các quan điểm lý thuyết. Như vậy chúng tôi hiểu CSNN là toàn bộ các biện pháp, được định ra để tác động, điều chỉnh có định hướng các quá trình ngôn ngữ, được thực hiện bởi xã hội (nhà nước)” (dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr.
Một nhà nghiên cứu khác thì khẳng định “nói đến CSNN là nói đến sự can thiệp có ý thức, có tổ chức, có cơ sở khoa học của xã hội vào sự hoạt động và phát triển của NN” (Nguyễn Hàm Dương, 1985, dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr.14) Các quan điểm trên có hạn chế ở chỗ là đã không nắm lấy đặc trưng cơ bản nhất trong nội dung khái niệm chính sách, đó là tính quy định chính trị của nó. Các tác giả chỉ đề cập đến mặt thực thi chính sách bằng các biện pháp trong khi khía cạnh chủ trương chính trị về ngôn ngữ chưa được nhắc tới trong các định nghĩa trên. Cần phải nhìn nhận CSNN trên hai bình diện: chủ trương chính trị và các biện pháp để thực hiện chủ trương đó. Chủ trương chính trị làm thành nội dung chính của CSNN và là yếu tố quy định CSNN.
Khắc phục được hạn chế nói trên, một số nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm toàn diện hơn về CSNN. “CSNN là hệ thống các quan điểm chính trị của một nhà nước, một giai cấp, một đảng phái về các vấn đề NN và hệ thống các biện pháp do nhà nước, giai cấp, đảng phái đó tiến hành nhằm tác động lên sự hành chức và sự biến đổi của các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại ngôn ngữ theo những mục đích chính trị nhất định” (Như Ý, 1985, dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr. “CSNN, hiểu theo nghĩa rộng là các nguyên tắc có tính tư tưởng chính trị và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia”; “CSNN hiểu theo nghĩa hẹp là hệ thống các biện pháp nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ, hoặc làm biến đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ” (Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước, quyển d, 2001, dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014a, tr. Từ những phân tích trên, có thể đi đến kết luận rằng CSNN không chỉ là một bộ phận của chính sách dân tộc hay chính sách đối nội, mà nó chính là sự thể hiện đường 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lối và nhiệm vụ chính trị chung của nhà nước và phục vụ cho việc thực hiện các đường lối và nhiệm vụ đó.
Nội dung của khái niệm chính sách ngôn ngữ bao gồm hai bộ phận hợp thành đó là: (1) chủ trương chính trị về ngôn ngữ của nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia; và (2) sự can thiệp (bằng hệ thống các biện pháp) có ý thức, có tổ chức, có cơ sở khoa học vào sự hoạt động và phát triển (hình thái, cấu trúc, chuẩn mực…) của ngôn ngữ để phục vụ cho những mục đích của xã hội. Nội dung cơ bản của chính sách ngôn ngữ Theo Nguyễn Văn Khang (2003), CSNN gồm những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, CSNN là một trong những nhân tố của quá trình phát triển ngôn ngữ. Do CSNN tác động lớn đến sự phân bố chức năng giữa các thực thể ngôn ngữ trong quốc gia (bao gồm mối quan hệ giữa các ngôn ngữ, phương ngữ, hình thức ngôn ngữ nói, viết…) và tác động đến sự phát triển của hệ thống một ngôn ngữ, nên CSNN là một trong những nhân tố của quá trình phát triển ngôn ngữ.