CHƯƠNG 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm chính sách công Từ điển Bách khoa Việt Nam khái niệm: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, định hướng mục tiêu những vấn đề công trong xã hội” [28].
Một tập thể các tác giả khác lại cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [35]. Theo quan điểm của Viện chính trị học khái niệm: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” Theo quan niệm của Đặng Ngọc Lợi khái niệm: chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ. Theo quan niệm của Lê Chi Mai khái niệm: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định thể hiện trên văn bản và những hành động, hành vi thực tiễn ở các địa phương. Từ những phân tích trên, Hồ Việt Hạnh có một số quan niệm chính sách công như sau: Thứ nhất, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước.
Thứ hai, các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. 10 Luan van Thứ ba, một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công. Tiêu chí đó có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng. Thứ tư, chính sách công phải được xem như một quá trình xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá [30] Chính sách công được thể chế hóa bằng các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, cuộc sống thực tiễn.
Đòi hỏi sự phù hợp của chính sách được thực hiện khả thi, bền vững trên thực tế. Như vậy có thể hiểu, chính sách công bao gồm các thuộc tính nhà nước, công cộng, hành động thực tiễn được hệ thống và kế thừa lịch sử, gắn liền với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của một quốc gia. Khái niệm thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách là một quá trình trong việc chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thực hiện quản lý các đối tượng trong các quan hệ xã hội, quản lý hành chính nhà nước. Tổ chức thực thi chính sách bao gồm các bước theo quy trình chính sách thực hiện trong một hệ thống.
Hoạch định chính sách và thực hiện đúng chính sách luôn gắn kết với nhau trong quá trình thực hiện. Khái niệm thực hiện chính sách hay “thực thi chính sách” hoặc “tiến hành thực hiện chính sách”, thực chất cùng nội hàm; thông thường, là giai đoạn sau quá trình hoạch định và trước quá trình đánh giá chính sách công. Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất các hoạt động được thiết kế để các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp”. Tác giả William Dunn cho rằng: “Các hành động chính sách công có hai mục đích chính: điều chỉnh và phân bổ”.
[19] Về cơ bản, coi thực hiện chính sách (công) – một khâu trong chu trình chính sách để đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội. Đây là quá trình xây dựng và ban hành các văn bản, chương trình, dự án,. nhằm hiện thực hóa, cụ thể hóa các nội dung chính sách để đạt được mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch đặc ra. Có thể thấy, thành công của chính sách chủ yếu phụ thuộc vào việc tổ chức thực thi chính sách đó trên thực tế.
Đó là từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách, khẳng định tính phù hợp, đúng đắng của chính sách công và giúp cho chính sách công ngày một hoàn thiện hơn. 11 Luan van Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. * Các bước thực hiện chính sách, gồm 5 bước: - Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách. - Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách. - Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách. - Đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách [29] 1. Khái niệm hòa giải Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: Hòa giải là giải quyết các tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba.
Sổ tay đào tạo hòa giải của Hội đồng hòa giải và thương lượng Tòa án tối cao Ấn Độ đưa ra khái niệm: “Hòa giải là quy trình đàm phán tự nguyện, có cấu trúc và lấy các bên làm trọng tâm, tại đó một bên thứ ba trung gian giúp các bên giải quyết ôn hòa tranh chấp của họ bằng cách sử dụng các kỹ thuật đàm phán và trao đổi thông tin chuyên biệt” và “Bản chất của hòa giải là quy trình đàm phán có trợ giúp. Hòa giải giải quyết cả các vấn đề về tình tiết và pháp lý, nguyên nhân nền tảng của tranh chấp…”. Theo quan điểm của tác giả Văn Tân thì hòa giải “là dàn xếp nhằm chấm dứt một xung đột” [87]. Theo Từ điển tiếng Việt, hòa giải là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [67] Hoạt động hoà giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có lý, có tình, nghĩa là hoà giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội.
Trước hết cần đề cao yếu tố tình cảm, phân tích, khuyên nhủ các bên ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: Như con cái phải có hiếu với cha mẹ; anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “như thể tay chân”, “chị ngã, em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”; vợ chồng sống với nhau phải có tình, có nghĩa, “đạo vợ, nghĩa chồng”; xóm giềng thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”… Đồng thời, hoà giải viên phải dựa vào pháp luật để phân tích, đưa ra những 12 Luan van lời khuyên và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.13] Trong quá trình hoà giải, hoà giải viên phải tìm hiểu ngọn ngành của vụ việc như: Nguyên nhân phát sinh, diễn biến của vụ việc, thái độ mong muốn của các bên… Từ những phân tích trên, có thể hiểu, hòa giải là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân với tư cách là người thứ ba (người hòa giải) hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên có tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp dân sự một cách ổn thỏa… 1. Khái niệm hòa giải cơ sở 1. Khái niệm Khoản 1, Điều 2 Luật Hòa giải năm 2013 quy định: HGOCS là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định. Theo Điều 3 Luật HGOCS, Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HGOCS, phạm vi HGOCS được quy định bao gồm các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải; Các trường hợp không hòa giải.
Như vậy, Hòa giải cấp cơ sở là việc thực hiện nhiệm vụ hòa giải ở cơ sở về các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. theo luật định và theo thẩm quyền, phạm vi hòa giải các ở các địa phương [16, tr. HGCS là hoạt động của ngành tư pháp, là phương thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư ở cơ sở, qua đó tạo được sự đoàn kết, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, phát huy vai trò của các Tổ hòa giải, HGV trong công tác hòa giải trên cơ sở đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó. Luật HGCS quy định hoạt động hòa giải của UBND cấp xã, hòa giải tại Tòa án, hòa giải thương mại, trọng tài, hòa giải lao động 13 Luan van theo quy định của các luật khác có liên quan không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật HGCS.
Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của việc thực hiện chính sách hòa giải cơ sở Thực tiễn trong đời sống kinh tế, xã hội có rất nhiều lĩnh vực được xây dựng tiêu chí đánh giá như tiêu chí đánh giá xây dựng pháp luật; tiêu chí đánh giá năng lực công chức; tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong kiểm toán… riêng công tác HGCS và thực hiện chính sách HGCS chưa được xây dựng tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong công tác này. Tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu đánh giá chính sách công, dựa trên khung lý thuyết trong các giải pháp tăng cường đánh giá chính sách công, có thể xây dựng tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của việc thực hiện chính sách HGCS với những phương diện cụ thể sau đây: Một là, tính hiệu lực của chính sách Phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của Nhà nước. Tính hiệu lực của chính sách thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu đề ra. Mục tiêu của chính sách HGOCS nhằm hạn chế những mâu thuẫn, tranh chấp ở cộng động dân cư, nâng cao đời sống nhân dân ở các địa phương.
Hai là, tính hiệu quả của chính sách Phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách đưa lại với chi phí đã bỏ ra. Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách.