PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, với gần 80% dân số sống ở nông thôn. Nông thôn nước ta trải rộng suốt từ các vùng cao biên giới qua các vùng cao nguyên đến các đồng bằng châu thổ của các dòng sông lớn và ven biển. Nông thôn là địa bàn kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước.
Công cuộc đổi mới làm cho “dân giàu, nước mạnh” không thể tách rời việc mở mang phát triển khu vực nông thôn rộng lớn. Nhìn chung đại bộ phận nông thôn nước ta còn trong tình trạng kém phát triển về kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng còn quá thiếu thốn và lạc hậu, điển hình là giao thông và thông tin liên lạc. Giao thông và thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu để mở mang sản xuất, tiếp cận thị trường, tiếp thu khoa học kỹ thuật và mở mang dân trí. Thực trạng nông thôn Việt Nam cũng giống như nông thôn của hầu hết các nước đang phát triển và một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế - xã hội chậm phát triển là sự yếu kém về hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó đặc biệt phải kể đến là sự yếu kém của cơ sở hạ tầng giao thông.
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong những Chương trình mục tiêu quan trọng đã được xác định trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn được Chính phủ cụ thể hóa thành Chương trình mục tiêu quốc gia và triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước. Tại tỉnh Lạng Sơn nói chung và huyện Văn Lãng nói riêng, Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn đến năm 2020 đã được Tỉnh ủy quan tâm, chỉ đạo thực hiện cụ thể bằng Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 12/8/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2011-2020 cũng như được Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, trọng điểm được đề ra trong Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020. Xác định tiêu chí đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là một tiêu chí rất quan trọng trong 19 tiêu chí phải đạt theo tiêu chuẩn xây dựng xã nông thôn mới, đặc biệt đối với huyện 2 Văn Lãng, một huyện biên giới của tỉnh Lạng Sơn có địa hình tự nhiên khá phức tạp, với diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn và trên 70% dân số sống ở nông thôn. Thực tế cho thấy phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với xã hội, phải đi trước một bước trong xây dựng nông thôn mới, hiện đại hóa nông thôn, góp phần xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một bộ mặt mới, tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội.
Để cụ thể hóa các mục tiêu đặt ra, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 19/2016NQ-HĐND ngày 09/12/2016 về việc phê chuẩn đề án phát triển giao thông nông thôn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020; HĐND huyện Văn Lãng đã ban hành Nghị quyết số 56/2016/NQ-HĐND ngày 16/12/2016 về việc phê chuẩn đề án phát triển giao thông nông thôn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020; UBND tỉnh đã phê duyệt đề án phát triển đường giao thông nông thôn phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 tại Quyết định số 1252/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020, đưa ra nhiều chính sách, giải pháp triển khai đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực thi chính sách phát triển đường GTNT trên địa bàn huyện Văn Lãng, chính quyền huyện mặc dù đã rất nỗ lực nhưng vẫn gặp nhiều rào cản nhất định. Trước hết là do cách làm và phương án triển khai thực thi chính sách chưa được linh hoạt, chưa huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội; chưa có được sự đồng bộ giữa các ngành, thiếu sự gắn kết với định hướng phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới, nên hiệu quả của việc tổ chức thực thi chính sách chưa cao. Đặc biệt, trong giai đoạn chuẩn bị triển khai chính sách khâu truyền thông chính sách phát triển đường GTNT đến người dân, xử lý các thắc mắc, mâu thuẫn quyền lợi trong triển khai chính sách chưa hợp lý, công tác kiểm soát của chính quyền huyện Văn Lãng chưa mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến kết quả triển khai chính sách.
Hệ thống đường GTNT mặc dù đã có những cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là đối 3 với các xã vùng sâu, vùng xa. Địa bàn các xã khu vực miền núi có diện tích khá rộng, dân cư thưa thớt, các tuyến giao thông dài; quy mô đường GTNT còn nhỏ hẹp, hệ thống cầu, cống thiếu về số lượng, chất lượng và tải trọng còn hạn chế. Tỷ lệ mặt đường bê tông, nhựa còn thấp, chủ yếu mặt đường vẫn là cấp phối và đường đất, vì vậy việc đầu tư xây dựng đường liên xã, liên thôn, liên xóm chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng nông thôn mới theo Kế hoạch của tỉnh, đòi hỏi phải có nguồn hỗ trợ của Trung ương, tỉnh hàng năm cho chương trình phát triển GTNT trên địa bàn huyện. Tính đến 31/12/2017, một số mục tiêu mà huyện Văn Lãng đặt ra vào đầu năm chưa đạt được, chẳng hạn mục tiêu trên 50% đường thôn bản, ngõ xóm không lầy lội về mùa mưa, hiện mới chỉ đạt được 45%.
Một trong những nguyên nhân của những tồn tại này là công tác chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đôn đốc và tuyên truyền, bận động trong nhân dân của chính quyền địa phương chưa được thường xuyên, liên tục. Trước những bất cập, hạn chế trong việc tổ chức thực thi chính sách phát triển đường GTNT, đặc biệt là việc đầu tư phát triển GTNT gắn với xây dựng nông thôn mới như hiện nay, việc đề ra các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác tổ chức thực thi chính sách phát triển đường GTNT là thách thức không nhỏ cho các nhà hoạch định chính sách của địa phương. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng đường giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến nay đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về giao thông nông thôn ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Các công trình nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau, ví dụ: Lê Nguyễn Phước Dung (2017), Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, NXB Đại học Huế, Huế. Luận văn đã đưa ra mục tiêu, quan điểm, thực trạng cũng như giải pháp đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông gắn với nông thôn mới 4 tới năm 2020, tuy nhiên một số giải pháp mang tính tổng thể và chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Bùi Như Việt (2017), Tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn của chính quyền huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, Đại học Kinh tế quốc dân đã chỉ ra và phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng tại huyện Tuần Giáo bao gồm các quá trình chuẩn bị triển khai chính sách, chỉ đạo triển khai chính sách và giám sát sự thực hiện chính sách, trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những mặt tích cực và những điểm yếu trong công tác tổ chức thực thi của chính quyền huyện Tuần Giáo; trong đó, điểm hạn chế lớn nhất là bộ máy tổ chức thực thi chính sách còn mỏng và năng lực yếu kém chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Với những phân tích và lập luận đó, tác giả đã đưa ra những khuyến nghị xác đáng cho chính quyền tỉnh và chính quyền địa phương, trong đó, nhấn mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ nhân lực trong bộ máy tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
Đây là khuyến nghị không chỉ mang tính chất địa phương mà còn có thể tham khảo đối với các địa phương khác cũng có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Dương Văn Hội (2015), Quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống đường giao thông nôn thôn ở huyện Thanh Liêm, đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đường giao thông nông thôn như xây dựng các công trình giao thông nông thôn cần phải thực hiện theo kế hoạch và quy hoạch, triển khai việc tổ chức thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của địa phương về quy hoạch giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Liêm. Cụ thể, huyện Thanh Liêm cần xác định kế hoạch xây dựng và bảo trì các tuyến đường do huyện, do xã quản lý. Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch GTNT trên địa bàn huyện phải trên cơ sở tận dụng tối đa hệ thống đường hiện có để đáp ứng nhu cầu giao thông trong thời kỳ mới và tiết kiệm chi phí xây dựng, kết cấu mặt đường phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế 5 của địa phương (như dễ làm, phù hợp với khả năng kinh phí của địa phương, có khả năng kết hợp thi công giữa cơ giới và thủ công, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa đơn giản.
Luận văn đã đưa ra những khuyến nghị khá chi tiết và cụ thể với trường hợp huyện Thanh Liêm về quy hoạch GTNT, đây cũng là những khuyến nghị có thể tham khảo đối với trường hợp các địa phương khác.