CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với NKT 1.Người khuyết tật và vấn đề của NKT 1. Khái niệm Người khuyết tật Ở Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước chúng ta vẫn dùng song song hai từ này trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Đến năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, NKT được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Người khuyết tật có những đặc điểm cơ bản như: NKT là nhóm thiểu số lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất; NKT có ở mọi nơi trên thế giới và các quốc gia phải có trách nhiệm bảo vệ NKT. Về nguyên nhân dẫn đến khuyết tật: Nếu như giai đoạn trước đây, các nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh là nguyên nhân chính dẫn tới khuyết tật. Thì trong những năm tới, các nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường sẽ khiến cho số lượng NKT có xu hướng ngày một gia tăng. Vấn đề của người khuyết tật Phân loại khuyết tật 10 Theo phân loại khuyết tật ở Việt Nam được cụ thể hóa trong Luật Người khuyết tật năm 2010, phân loại mức độ khuyết tật thường được dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau: dựa vào các dạng tật và dựa vào các mức độ khuyết tật [8].
* Các dạng khuyết tật: Theo quy định tại khoản 1, Điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam 2010 các dạng tật được quy định cụ thể: a. Khuyết tật vận động: tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói: là khó khăn khi nói hoặc không nói được, khó khăn khi nghe hoặc không nghe được, bị biếng dạng ở vùng tai, mũi, miệng. Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường.
Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. đ Khyết tật trí tuệ: tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. * Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây: Tại Điều 3 của Nghị định số 28/NĐ-CP qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT chia thành 3 mức độ khuyết tật: a.
Người khuyết tật đặc biệt nặng b. Người khuyết tật nặng 11 c. Người khuyết tật nhẹ * Đặc điểm của người khuyết tật Người khuyết tật có những dạng tật khác nhau, tình hình sức khỏe cũng khác nhau. Sự khiếm khuyết về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập… Ở người khuyết tật vận động do chấn thương hay do bị bệnh gây ra như què cụt, khèo, liệt chân tay ngoài ra người khuyết tật vận động do tổn thương khu vận động não bộ.
Những người hạn chế nghe, nói, khó khăn khi nói, kém hiểu biết về các quy luật xã hội căn bản, không ý thức về hậu quả về các hành vi của mình, khó khăn khi tự phục vụ, phân tích màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém, thiếu tích cực trong quan sát, tư duy của họ thường biểu hiện tính không liên tục, chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa mới tiếp thu, thời gian chú ý của những người này chậm phát triển trí tuệ kém hơn nhiều người bình thường. Người khuyết tật cũng như những người bình thường có những đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần và nhu cầu hoàn thiện chính bản thân mình như những người bình thường khác. Người khuyết tật luôn muốn được hòa nhập xã hội, mong muốn được học tập, muốn được tôn trọng để xóa đi những mặc cảm tự tị, mặc cảm với bản thân mình. Chính sách đối với người khuyết tật 1.
Khái niệm chính sách đối với NKT - Chính sách đối với NKT: là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực giáo dục, bảo vệ và chăm sóc NKT. Đó là các chính sách và chương trình hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình, phục hồi chức năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình tiếp cận công trình công cộng, tham gia giao thông và công nghệ thông 12 tin đối với NKT; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình NKT có hoàn cảnh đặc biệt; các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc nội dung bảo vệ NKT; các chương trình dành riêng cho NKT. Nội dung chính sách đối với NKT a.Chính sách giáo dục Khoản 3, Điều 61, Hiến pháp năm 2013 khẳng định .Người khuyết tật, đặc biệt là trẻ em khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. * Phương thức giáo dục người khuyết tật - NKT, cha, mẹ hoặc người giám hộ NKT lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với sự phát triển của cá nhân NKT.
- Nhà nước khuyến khích NKT tham gia học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập.Chính sách bảo trợ xã hội Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội (sau đây gọi chung là mức chuẩn trợ giúp xã hội) là 270.000 đồng/ tháng. Căn cứ theo Điều 16 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định hệ số tính mức trợ cấp xã hội hằng tháng cho NKT như sau:NKT đặc biệt nặng hệ số 2, NKT đặc biệt nặng NCT, trẻ em hệ số 2.5, NKT nặng hệ số 1.5, NKT nặng NCT, trẻ em hệ số 2. Gia đình có NKT đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đó được hưởng mức hỗ trợ chăm sóc là hệ số 1. - Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc 1 NKT đặc biệt nặng được hưởng 13 chế độ chăm sóc hệ số 1.
- Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc 2 NKT đặc biệt nặng trở lên được hưởng chế độ chăm sóc hệ số 3. Theo Điều 18 Nghị định 28/2012/NĐ-CP hệ số tính mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng và các mức cấp kinh phí chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội. Nhà nước cấp kinh phí để cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống theo quy định sau đây: Hệ số tính mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng là ba (3,0); trường hợp người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi thì hệ số mức trợ cấp là bốn (4,0). Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập.
Chính sách chăm sóc y tế Như những người bình thường, NKT có quyền được chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, được khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng,được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được tham gia và hưởng BHYT như mọi công dân khác trong xã hội. Điều 21 Luật Người khuyết tật 2010 quy định việc chăm sóc sức khỏe cho NKT như sau: Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây: - Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết tật. *Phục hồi chức năng: Theo quy định của pháp luật về người khuyết tật, cụ thể tại Điều 24 và 14 Điều 25 Luật người khuyết tật 2010 quy định nội dung phục hồi chức năng người khuyết tật bao gồm: Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. • Viện chỉnh hình, phục hồi chức năng; • Trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng; • Bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng; • Khoa phục hồi chức năng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; • Bộ phận phục hồi chức năng của cơ sở bảo trợ xã hội; Việc thành lập và hoạt động của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng được thực hiện theo quy định của pháp luật.Chính sách về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch Theo Luật NKT 2010 và Nghị định 28/2012/ND-CP quy định về hoạt động văn hóa, TDTT, giải trí và du lịch đối với NKT như sau: - Người khuyết tật đặc biệt nặng được miễn, người khuyết tật nặng được giảm giá vé và giá dịch vụ khi sử dụng một số dịch vụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch theo quy định của Chính phủ.
đ Chính sách ưu tiên cho người khuyết tật khi tham gia thông bằng phương tiện giao thông công cộng Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 39/2012/TT-BGTVT hướng dẫn thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kết cấu hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ và chính sách ưu tiên NKT tham gia giao thông công cộng do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành thì nội dung này được quy định như sau: *Ưu tiên khi mua vé, sắp xếp chỗ ngồi: - Người khuyết tật khi tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông công cộng được ưu tiên mua vé tại cửa bán vé; được sử dụng chỗ ngồi dành cho các đối tượng ưu tiên.