CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đào tạo nghề Trong "Bách khoa toàn thư Việt Nam", khái niệm đào tạo nói chung là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người.
Như vậy, đào tạo nghề là quá trình tác động có chủ đích của con người nhằm phát triển tay nghề, đạo đức, văn hóa nghề nghiệp của họ, thể hiện trên 3 mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014: "Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp" Theo cách tiếp cận của luận văn này, đào tạo nghề là hoạt động dạy nghề trong cơ sở dạy nghề của hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, nhằm truyền đạt kiến thức và kỹ năng thực hành cho người học nghề, đề người học nghề có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo và đạt được những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hay nhiều nghề, đáp ứng được yêu cầu việc làm của thị trường lao động. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về “Chính sách đào tạo nghề”. Thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về chính sách như: Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”. 6 Như vậy, có thể hiểu: chính sách là cách thức và hành động mà Nhà nước lựa chọn nhằm tác động vào sự phân bổ các lợi ích của chủ thể hoạt động trong xã hội hay một lĩnh vực nhất định nào đó (Kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng). Đối với Việt Nam, chính sách là hệ thống các phương pháp, cách thức, biện pháp của Nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm đạt được các mục tiêu trong mỗi giai đoạn lịch sử.
Chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề: “Chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề là tổng thể các biện pháp tác động của nhà nước có liên quan đến đào tạo nghề và các ngành có liên quan, nhằm tác động vào hoạt động đào tạo nghề theo những mục tiêu nhất định, trong một thời gian nhất định để kích thích hoạt động đó phát triển”. Khái niệm trên hàm chứa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, bao gồm hoạt động xây dựng và ban hành văn bản liên quan đến hoạt động đào tạo nghề, từ các đạo luật, nghị định, quyết định, chỉ thị, hiệp định, thông tư, văn bản thông báo và hướng dẫn, hợp đồng và ghi nhớ hợp đồng, thoả thuận, phương án,…mang tính bắt buộc thực hiện hoạt động đào tạo nghề. Từ khái niệm trên có thể phân loại chính sách hỗ trợ đào tạo nghề theo phạm vi ảnh hưởng và lĩnh vực tác động của các chính sách về kinh tế, chính sách về xã hội. Trong các chính sách thì chính sách kinh tế xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng.
Nó là tổng thể các quan điểm, các biện pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế, xã hội nhằm giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, thực hiện những mục tiêu nhất định theo mục tiêu tổng thể của đất nước. Có thể phân các chính sách kinh tế tác động đến hoạt động đào tạo nghề thành các nhóm sau: Đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lưọng dạy nghề góp phần đảm bảo cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông; tạo điều kiện phổ cập nghề nghiệp cho thanh niên và đáp ứng 7 nhu cầu học nghề của người lao động; đào tạo nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đầu tư có trọng tâm trọng điểm để đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hoá thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề; tập trung xây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu, nhưng khó thực hiện xã hội hoá. Thực hiện xã hội hoá hoạt động dạy nghề, khuyến khích các tổ chức cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thành lập cơ sở dạy nghề.
Khuyến khích nghệ nhân và người có tay nghề tham gia dạy nghề; khuyến khích hỗ trợ các nghề truyền thống và các ngành nghề ở nông thôn. Các cơ sở dạy nghề bình đẳng trong hoạt động dạy nghề và được hưởng ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chính sách như người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp. Các chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề được khái quát bởi một số đặc trưng cơ bản sau: Đối tượng tác động của chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề là toàn bộ hoạt động đào tạo nghề.
Để các chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề thật sự phát huy tác dụng thì đòi hỏi các địa phương phải chủ động xây dựng, thực thi các chính sách tác động trực tiếp vào các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo nghề. Đối tượng của chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề không chỉ liên quan đến các cơ sở đào tạo nghề, người được đào tạo nghề mà còn liên quan đến yêú tố kinh tế, xã hội. Vì vậy bên cạnh các chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề, nhà nước cũng cần có những chính sách khắc phục hạn chế của hoạt động đào tạo nghề đối với đời sống kinh tế và xã hội. 8 Chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề tập hợp nhiều chính sách công khác nhau đó là các chính sách về phát triển nông thôn, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách về thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo.Kết quả của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề là tổng hợp của nhiều chính sách kinh tế xã hội.
Chủ thể trực tiếp hoạch định chính sách và thực thi chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề là các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Trên cơ sở các chính sách của Trung ương, ở địa phương căn cứ điều kiện, tình hình thực tế của mình, HĐND và UBND địa phương cũng ban hành các chính sách phù hợp thông qua các quyết định, chỉ thị của UBND thành phố, UBND huyện. Các chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề chịu sự ảnh hưởng, chỉ đạo bởi các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng. Việc thực hiện chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề phải có sự phối hợp chặt chẽ của hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan các cấp gồm: Sở Lao động TB&XH, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính.Việc hoạch định và kết quả thực thi chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề chịu ảnh hưởng sâu sắc của cách hiểu, cách làm của chính quyền địa phương.
Chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề có thể phát triển theo hai hướng thúc đẩy hoặc hạn chế. Nhưng mục tiêu chung là hướng tới đào tạo được nhiều lao động có tay nghề, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời góp phần tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề phục vụ cho quá trình phát triển đất nước và xuất khẩu lao động. Để bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng, có tay nghề và sẽ mang lại lợi ích cả về kinh tế và xã hội cho đất nước thì vai trò của các chính sách hỗ trợ hoạt động đào tạo nghề là hết sức cần thiết bởi vì: Giáo dục- đào tạo nghề tạo ra sự “Tranh đua” xã hội.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm người “Yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội, giúp họ “Cầm cự” được trong cuộc sống 9 thường nhật, tạo cơ hội cho họ quay trở lại thị trường lao động. Nhưng nếu những người này không được đào tạo nâng cao nghề nghiệp thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “Bật” ra khỏi thị trường lao động. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này, đòi hỏi những người trong độ tuổi lao động, bằng cách này hay cách khác phải nâng cao “Vốn nhân lực” của mình và cách hiệu quả nhất là nhà nước phải có các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động.
Vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế.