Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI, SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1. Một số vấn đề lý luận của hệ thống chính trị cơ sở và chính sách đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị và chức năng của hệ thống chính trị Thuật ngữ hệ thống chính trị được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu chính trị học trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này được đề cập đến ở nhiều giác độ, đó là kết quả của những cách tiếp cận đa dạng của các nghiên cứu về hệ thống chính trị.
Tùy từng cách tiếp cận, mà khái niệm hệ thống chính trị có thể được hiểu khác nhau. Chẳng hạn, theo cách tiếp cận thể chế thì nội hàm khái niệm hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế chính trị (gồm các tổ chức đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội) và các mối quan hệ tác động giữa các thành tố này với nhau. Theo cách tiếp cận hệ thống, hệ thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc các thể chế và các quan hệ giữa các thể chế mà còn bao gồm cả những chuẩn mực chính trị, các hoạt động chính trị, vai trò của các tổ chức trong hoạt động chính trị, hành vi chính trị, văn hoá chính trị. Tất cả đều là bộ phận của một bộ máy mà các yếu tố đó đều có vai trò, ý nghĩa của nó, các yếu tố tự phát triển, tự điều tiết và thích ứng với những tác động từ bên ngoài.
Trong hệ thống (bộ máy) đó có “đầu vào”, có “đầu ra”. Đầu vào của hệ thống là các nhu cầu trong đời sống của con người nó được “nạp” một cách đều đặn, liên tục. Các yếu tố đầu vào khi được nạp vào bộ máy, được bộ máy xử lý và sản phẩm của quá trình xử lý là các quyết định chính trị các chính sách, các văn bản luật…. 10 n Theo cách tiếp cận hành vi chính trị điển hình là cách tiếp cận của nhà chính trị học người Mỹ G.
Almold cho rằng hệ thống chính trị là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước. Các kiểu hành vi chính trị được chia thành 02 cấp độ đó là thể chế và định hướng. Về mặt thể chế, hệ thống chính trị là tổng thể các thiết chế nhà nước và phi nhà nước, còn cấp độ định hướng chính trị thì hệ thống chính trị biểu hiện ở các quan hệ, cấu trúc, các giá trị chính trị tạo thành văn hóa chính trị. Sự khác nhau cơ bản giữa hệ thống chính trị với các tổ chức xã hội khác đó là hệ thống chính trị là những hoạt động có quyền cưỡng chế hợp pháp của các tổ chức đối với người công dân thông qua hệ thống pháp lý và các các công cụ cưỡng chế; theo cách tiếp cận hình thái kinh tế-xã hội, hệ thống chính trị được hiểu là bộ phận của kiến trúc thượng tầng được quyết định bởi cơ sở hạ tầng xã hội.
Cấu trúc của hệ thống chính trị phụ thuộc và sự phát triển của cơ sở hạ tầng tạo nên nó. Từ các cách tiếp cận trên có thể xác định nội hàm chung để nhận diện khái niệm hệ thống chính trị gồm những nội dung sau: Một là, hệ thống chính trị là hệ thống cấu trúc bao gồm các thiết chế chính trị. Các thiết chế trong hệ thống chính trị có liên quan đến giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước hoặc tham gia vào công việc của nhà nước. Hai là, hệ thống chính trị còn biểu hiện mối quan hệ giữa các thiết chế với các mối quan hệ quyền lực nhất định, là sự tương tác của các thiết chế trong quá trình thực thi quyền lực chính trị.
Ba là, hệ thống chính trị bao gồm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các yếu tố trong hệ thống. Các nguyên tắc tổ chức, vận hành giúp hệ thống các tổ chức hoạt động đúng mục đích của chủ thể nắm quyền lực. Xuất phát từ các cách tiếp cận trên, chúng ta có thể định nghĩa: Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức 11 n như: đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ và sự tương tác giữa các yếu tố nhằm hướng tới mục tiêu chung của cả hệ thống. Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng ta chính thức đưa ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (khóa VI) vào tháng 3/1989 và chính thức sử dụng trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản đã được sử dụng trước đó.
Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 đoàn thể chính trị - xã hội: (Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị của một quốc gia hiện đại gồm: Hệ thống đảng chính trị (trong đó đảng cầm quyền là trung tâm lãnh đạo chính trị cảu hệ thống chính trị); Nhà nước là trung tâm của quyền lực công, thực hiện quyền quản lý xã hội trước hết qua hệ thống pháp luật và các công cụ cưỡng chế; các tổ chức quần chúng phản ánh lợi ích của những nhóm xã hội nhất định. * Hệ thống chính trị có các chức năng sau: Hệ thống chính trị là tổng thể hệ thống cấu trúc các thiết chế và mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống, mỗi thành tố có chức năng riêng trong chỉnh thể. Ở góc độ chỉnh thể của hệ thống chính trị, hệ thống chính trị có những chức năng sau: - Chức năng xác định mục tiêu chung của hệ thống Bất kỳ hệ thống chính trị nào cũng đều được tổ chức, thiết kế theo chủ đích của giai cấp cầm quyền.
Là giai cấp thống trị xã hội giai cấp thống trị tổ chức ra các thiết chế để thực hiện 2 chức năng mà giai cấp thống trị hướng 12 n đến đó là tối đa hoá lợi ích của giai cấp cầm quyền và đảm bảo sự công bằng nhất định lợi ích xã hội. Như vậy, hệ thống chính trị ra đời là nhằm hiện thực hoá mục tiêu mà giai cấp cầm quyền đặt ra vì vậy chức năng quan trọng của hệ thống chính trị là xác định mục tiêu của hệ thống cần đạt được. Mục tiêu của hệ thống chính trị bao gồm mục tiêu của cả hệ thống và mục tiêu của từng nhánh tổ chức. Mục tiêu chung của hệ thống phản ánh toàn bộ những gì mà giai cấp cầm quyền hướng đến, là cơ sở để định hướng mục tiêu, thống nhất hoạt động của toàn bộ hệ thống.
Do đó đòi hỏi mục tiêu chung của hệ thống chính trị phải được xác định rõ ràng vì nếu mục tiêu không được xác định rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nhất quán trong hoạt động, có thể triệt tiêu kết quả hoạt động lẫn nhau của các bộ phận cấu thành của hệ thống hệ thống chính trị. Bên cạnh mục tiêu của cả hệ thống chính trị trong hệ thống còn có những mục tiêu riêng của từng bộ phận cấu thành nên hệ thống. Chẳng hạn trong hệ thống chính trị mục tiêu của các đảng chính trị là đề ra các chương trình hành động của quốc thông qua việc ban hành ra các chủ trương, đường lối và các chính sách trong quá trình vận động tranh cử để thuyết phục quần chúng và các lực lượng khác đi theo, nhằm hiện thực hoá lực lượng của mình khi nắm quyền lực nhà nước. Nhà nước với tư cách là cơ quan đại diện quyền lực công cũng có những mục tiêu riêng của mình.
Mục tiêu của nhà nước là dùng sức mạnh cưỡng chế để quản lý, điều hành xã hội một cách ổn định, đặt được mục tiêu mà bộ phận cầm quyền đặt ra. Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách bắt buộc các tổ chức, thành phần xã hội phải tuân thủ; Các tổ chức chính trị và các tổ chức xã hội là các bộ phận đại diện cho các tầng lớp nhân dân khác nhau. Sự đa dạng của các thành phần trong xã hội đã phản ánh tính mục tiêu của các tổ chức chính trị và các tổ chức xã hội. Như vậy mục 13 n tiêu của hệ thống chính trị có mục tiêu tổng quát và có mục tiêu bộ phận của từng tổ chức trong cấu trúc của hệ thống.
- Chức năng xác định cách thức đạt mục tiêu của hệ thống chính trị Ngoài việc xác định được mục tiêu chung của hệ thống, hệ thống chính trị còn xác định các phương thức cụ thể để đạt được mục tiêu đó. Chức năng này rất quan trọng, là chức năng xác định cách thức đạt mục tiêu. Đạt mục tiêu bằng cách thức nào cũng là một vấn đề quan trọng do liên quan đến việc sử dụng độc quyền cưỡng chế hợp pháp của nhà nước. Xác định rõ cách thức đạt mục tiêu nhằm tránh khả năng sử dụng độc quyền này theo những cách có thể vi phạm quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân và tổ chức trong xã hội.
- Chức năng lựa chọn người lãnh đạo cho hệ thống Lựa chọn người lãnh đạo hệ thống chính trị là một trong những hoạt động quyết định sự phát triển của hệ thống chính trị. Sự vận hành hệ thống chính trị được xem là quá trình vận động của một bộ máy và cần có sự lãnh đạo chung của cá nhân, của nhóm người nhất định. Bất kỳ bộ phận nào trong hệ thống chính trị cũng cần đến người lãnh đạo hệ thống do đó cần phải lựa chọn người lãnh đạo phù hợp. Lịch sử chứng minh có những cách lựa chọn người lãnh đạo hệ thống khác nhau: bằng bạo lực, hoặc bằng phương thức hoà bình.
Cách thức lựa chọn người lãnh đạo hệ thống chính trị phổ biến hiện nay là thông qua bầu cử. - Chức năng bảo vệ sự tồn tại, kỷ luật, kỷ cương của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị khi vận hành là một bộ máy với những bộ phận cấu thành riêng biệt được thống nhất theo một chỉnh thể.