Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Khái niệm chính sách Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Khái niệm chính sách công Theo một số học giả trong và ngoài nước, chính sách công được hiểu như sau: - Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971). Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó - Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Nhà nước tiến hành (Peter Aucoin, 1971) mà vấn đề mà chính sách hướng vào giải quyết là vấn đề công. 7 n - Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1922).
- Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004). - Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội (PGS. Nguyễn Hữu Hải).
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền (PGS. Lê Chi Mai cho rằng "Chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau". Khái niệm thực hiện chính sách công - Khái niệm: Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển 8 n hóa các ứng xử của chủ thể thành hiện thực lên đối tượng quản lý nhằm đặt được mục tiêu định hướng. - Ý nghĩa thực hiện chính sách công: + Là khâu biến ý đồ chính sách thành hiện thực: Từ chủ ý của chủ thể quản lý được chuyển sang thành hành động cụ thể, tác động đến đối tượng, nhóm đối tượng được điều chỉnh theo mục tiêu định sẵn.
+ Tổ chức thực hiện chính sách để thực hiện các mục tiêu chính sách, thực hiện mục tiêu chung: Có nghĩa là tổ chức thi chính sách tác động vào đời sống xã hội nhằm điều chỉnh, giải quyết một hay nhiều vấn đề nhưng vẫn không đi ngược lại mục tiêu chung của toàn hệ thống các chính sách khác. + Khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Một khi chính sách được triển khai rộng rãi điều đó có nghĩa là chính sách đó là đúng đắn, được cộng đồng xã hội chấp nhận và ủng hộ. + Qua thực hiện chính sách ngày càng làm hoàn thiện hơn hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước bởi vì nó cho thấy trong quá trình tổ chức thực hiện gặp phải những vướng mắc gì, đối tượng nào chưa bao quát đến để có cơ sở điều chỉnh phù hợp, thậm chí có thể xây dựng, ban hành chính sách mới. Khái niệm về đào tạo nghề - Theo Các-Mác công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất (Các- Mác Ph.
Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198). - Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và Xã hội xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu như sau: "Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ 9 n lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội". - Trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Khái niệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương và hành động của Chính phủ nhằm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp góp phần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh thế phát triển.
Lao động nông thôn và đặc điểm lao động nông thôn 1. Lao động nông thôn Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động xã hội, bao gồm toàn bộ những người lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia hoạt động trong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn. Cụ thể, nguồn lao động nông thôn bao gồm những người đủ tuổi lưo động sống ở nông thôn đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực nhƣ nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và những người trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế. Đặc điểm của lao động nông thôn Đặc điểm của người nông dân và lao động nông thôn là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo vườn, ao, chuồng, cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán 10 n làm việc theo cảm tính, người nông dân không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm; thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi nhiều; phần lớn chưa có nghề và chưa được đào tạo nghề một cách bài bản là những đặc trưng cơ bản của lao động nông thôn. Chính đặc điểm của người nông dân như vậy làm cho vai trò đào tạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của phong trào xây dựng nông thôn mới nói riêng. Cơ cở thực tiễn Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, trong những năm qua Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó được cụ thể hóa bằng Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020". Mục tiêu của đề án này là: - Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào ạto, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã; - Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạoề,nghằm tạo việc làm, tăng thu nhập củaaol động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp côngệp nghihoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; * Giai đoạn 2009-2010: - Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục- đào tạo đến năm 2010 bằng các chính sách của Đề án này.
- Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu 11 n hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%. * Giai đoạn 2011-2015: Đào tạo nghề cho 5.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 4.000 lao động nông thôn được học nghề (1.000 người học nghề nông nghiệp; 3.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 120.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%.
* Giai đoạn 2016-2020: Đào tạo nghề cho 6.000 laoộngđ nông thôn, trong đó: Khoảng 5.000 lao động nông thôn được học nghề (1.000 người học nghề nông nghiệp; 4.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 380.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt.