phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005 Chƣơng 2: Chính sách dân tộc ở Phú Thọ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010 Chƣơng 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 1. Khái quát điều kiện tự nhiên Phú Thọ được coi là vùng Đất tổ của Việt Nam.
Trong quá trình lịch sử, địa danh và địa giới Phú Thọ có nhiều sự thay đổi. Thời Hùng Vương, nhà nước Văn Lang được chia thành 16 bộ, trong đó Phú Thọ thuộc bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang. Dưới thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ X), Phú Thọ thuộc quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu. Đến thời kỳ phong kiến độc lập, dưới triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, vùng đất Phú Thọ nằm trong tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa.
Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi. Từ đây, tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Từ năm 1903 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, về cơ bản đơn vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số huyện và thành lập một số làng xã mới. Đến tháng 1 năm 1968, theo Nghị quyết số 504-NQ/TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Phú Thọ được hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú.
Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Sau đó, Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núi. Phú Thọ được tái lập với diện tích đất tự nhiên là 3.528 km2, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc.
Đây là vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc. Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội 80 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 60 km về phía Bắc, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thủy hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km. Việt Trì là thành phố duy nhất trên cả nước có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng, sông Lô và sông Đà nên đây thường được gọi là thành phố “ngã ba sông”. Với vị trí “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây nối với thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật… giữa các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với các tỉnh miền núi phía Tây Bắc và Đông Bắc như Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai… Phú Thọ vừa có thể đáp ứng được nhu cầu vừa thu hút nguyên liệu, nông lâm khoáng sản từ các tỉnh trên.
Tất cả các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây - Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới về Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác. Đặc điểm địa hình nổi bật của Phú Thọ là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Căn cứ vào địa hình, có thể chia Phú Thọ thành 2 tiểu vùng chủ yếu: Tiểu vùng miền núi gồm các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa và một phần của huyện Cẩm Khê có diện tích tự nhiên 182.475,82 ha; dân số 418.266 người, mật độ dân số 228 người/km2 [6, tr. 3]; có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 500m.
Đây là tiểu vùng đang gặp khó khăn về giao thông, trình độ dân trí thấp, nhiều dân tộc sinh nhưng có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai khoáng và kinh tế trang trại. Tiểu vùng trung du đồng bằng gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thủy, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa; diện tích tự nhiên 169.489,50 ha; dân số 884.734 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người, mật độ 519 người/km2 [6, tr. 4]; có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 50 - 200m. Đây là tiểu vùng có kinh tế - xã hội phát triển, tiềm năng nông, lâm, khoáng sản được khai thác tương đối triệt để; là nơi sản xuất nhiều nông sản hàng hóa xuất khẩu như: chè, đậu tương, lạc…; nơi có nhiều khu, cụm, điểm công nghiệp… nhưng đã xuất hiện hiện tượng đất bị thoái hóa ở một vài nơi.
Còn dải đất ven sông màu mỡ thuận lợi cho phát triển chè, đậu tương, lạc, vừng, cây ăn quả, sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản… Đây là tiểu vùng thuận lợi về điều kiện giao thông vận tải, có đất đai phù hợp cho phát triển khu công nghiệp và đô thị. Có thể thấy, Phú Thọ có địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng ven sông, đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng, phong phú để phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa toàn diện với những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, do địa hình chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội phải đầu tư tốn kém, nhất là giao thông, thủy lợi, cấp điện, cấp nước… ở vùng miền núi, dân tộc. Những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình cũng như điều kiện tự nhiên trên đây thể hiện Phú Thọ là một tỉnh có vị trí địa - chính trị quan trọng, có tiềm năng phát triển năng động về kinh tế, và có ảnh hưởng nhất định đến chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh.
Khái quát về kinh tế - xã hội Kinh tế Phú Thọ thời gian qua phát triển đúng hướng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do thời tiết và thị trường có nhiều biến động phức tạp, tuy nhiên, với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, cộng với sự giúp đỡ của Chính phủ, các bộ, ngành, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn được giữ vững ở mức cao so với các địa phương khác thuộc vùng miền núi trung du Bắc Bộ cũng như so với mặt bằng chung của cả nước; chất lượng tăng trưởng từng bước được nâng lên. Những năm gần đây (2005 - 2010), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 11,8 triệu đồng, tương đương 637 USD.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh. Năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 38,6%, dịch vụ 35,8%, nông lâm nghiệp 25,6%. Cơ cấu nội bộ ngành có sự chuyển dịch khá tích cực, theo hướng sản xuất hàng hóa. Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm từ 27,6% năm 2005 xuống còn 25,6% năm 2010.
Trong sản xuất nông nghiệp, nhờ việc chú trọng các giống cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao đi đôi với đa dạng hoá cây trồng nên tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản liên tục tăng, cơ cấu cây trồng có sự thay đổi: chuyển từ thế độc canh cây lương thực sang tập trung đầu tư, hình thành một số vùng chuyên canh cây trồng như: cây ăn quả ở Phú Lộc - thị xã Phú Thọ, rau ở Lâm Thao, Tân Đức. Cơ cấu mùa vụ có sự chuyển đổi cơ bản. Phú Thọ là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất ba vụ trong năm. Sản lượng hạt lương thực tăng 3,7%.
Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn chậm, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ tương đối lớn so với công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế. Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất tăng bình quân 12,5%/ năm và tăng 1,8 lần so với năm 2005. Năng lực sản xuất các ngành có lợi thế tăng nhanh, như: Xi măng tăng 7,9 lần, phân bón tăng 1,2 lần, giấy tăng 1,2 lần…; một số sản phẩm mới, công nghệ cao đang hình thành; sản xuất công nghiệp đa dạng.
Cơ cấu theo ngành và theo thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp chế biến, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng nhanh. Đã hình thành một số khu, cụm công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư vào tỉnh. Các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng khá, đạt 9,8%/ năm. Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên.
Mạng lưới bưu chính - viễn thông đã được đầu tư xây dựng rộng khắp trong cả tỉnh. Xã nào cũng có những điểm bưu điện văn hoá xã, đảm bảo sự thông suốt của thông tin giữa 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các vùng miền trong tỉnh với các miền trong cả nước và quốc tế, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của tỉnh. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa, văn nghệ, báo chí, thể dục, thể thao tiếp tục có bước phát triển. Những kết quả đó có đóng góp không nhỏ của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ.
Đặc điểm dân cƣ và dân tộc thiểu số Là vùng đất “sơn chầu, thủy tụ”, từ xa xưa vùng đất Phú Thọ đã có người Việt cổ sinh sống.