CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CỨU NẠN BIẾN CỦA NHA NGUYEN NUA DAU THE Ki XIX 1. Cơ sở khách quan 1. Vị thế chiễn lực của vùng biển đảo Việt Nam Vòng biển Việt Nam là một phần của Biển Đông! với đờng bờ biển dài 3260 km cùng hai thềm lục địa rộng lớn ở phía bắc và phía nam là vịnh Bắc Bộ (rộng 140.000 km2) và vịnh Thái Lan (rộng 293. Vòng biển đảo Việt Nam có điện tích khoảng 1.000 km2 trong đó cứ 100km2 thì có Ikm bờ biển, chỉ số nàycao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới”.
Với phần bờ biển dài nhất trong số các nớc có liên quan ở Biển Đông, hiển nhiên đặt Việt Nam vào thế “hớng ra biển” và tạo ra vị thế địa chính trị, địa văn hóa, địa kinh tế quan trọng trong khu vực cho vùng biển đảo Việt Nam. Với t cách là địa bàn chuyên nối giữa lục địa và đại dơng, là ngã t đờng của các nền văn minh thế giới, vòng biển Việt Nam từng là nơi chứng kiến quá trình giao lu văn hóa giữa các khu vực từ rất sớm. Các bằng chứng khảo cô học đã cho thấy ngay từ cuối thời kỳ Đá mới - đầu thời kỳ Kim khí trên các không gian biển Việt Nam và khu vực đã diễn ra các hoạt động giao lu qua lại. GS Trần Quốc Vợng từng cho rằng tại khu vực Đông Nam Bộ, các quan hệ giao lu kinh tế - xã hội đã đợc hình thành với các vòng Đông Nam A khác nh Sam Rong Sen, Mlu hei (Campuchia), với Hạ Thợng Lào hay Non Nok Tha, Ban Chiang (Thái Lan), với Vân Nam và cả với Ryukyu (Lu Cầu) mà Okinawa là hòn đảo chính với cảng thị Naha [124, tr.
Không dừng lại ở đó, thế ki XV-XVII với những thành tựu nỗi bật trong ngành vận tải hàng hải và sự phát triển rộng khắp của mạng lới hải thơng đông tây, các không gian biển Việt Nam lại một lần nữa trở thành con đờng gặp gỡ và truyền bá các tôn giáo lớn trên thế giới. Sự xuất hiện của các giáo sĩ phơng Tây truyền đạo Công giáo trên khắp các thơng thuyền đã thổi một luồng gió mới ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài bên cạnh các giáo lý Nho ! Biển Đông là một biển nửa kín có diện tích vào khoảng 3,5 triệu km2, là biển lớn nhất trong 6 biển của thế giới (gap 8 lan Bién Den va 1,2 lan Biên Dia Trung Hải). Day là biên duy nhật nôi liên hai dai dong 1a An DO Dong va Thái Bình Dơng. Năm trên mời tuyên đờng biên thông thơng lớn nhat trên thê giới đêu phải di qua Biên Đông.
Biển Đông đợc bao bọc bởi bờ biển các nớc: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Singapore, Brunei, Philippines, Đài Loan và Trung Quốc. Trong luận văn này, chúng tôi xem xét vùng biển Việt Nam nh một bộ phận quan trọng của Biển Đông. Vì thế vòng biển đảo Việt Nam hiền nhiên cũng mang trong mình những Vai trò đặc biệt quan trọng về vi the địa — kinh tê, dia — chinh trị, địa — văn hóa. „ ? Chỉ số duyên hải hay chỉ sô chiêu dài bờ biên trên diện tích đât liên (sea index) của nớc ta là xâp xỉ 0,01.
Theo quy luật, các quốc gia có chỉ sô duyên hải càng cao thì nên văn hóa của quôc gia đó càng có tính mở và có quan hệ giao thơng rộng lớn. 14 giáo, Phật giáo ảnh hởng từ Trung Hoa và Ấn Độ. Trong một nghiên cứu về bối cảnh vùng vịnh Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam, Li Tana cũng khẳng định rằng những mối liên kết đã trải rộng từ biển này đến biển khác ở vùng vịnh Bắc Bộ cũng nh với các vùng hải đảo và xa hơn nữa [135, tr. Có thé thấy, biển là không gian rộng lớn, là một trong những cửa ngõ chính yếu nơi văn hóa Việt đối thoại và đối diện với các nền văn hóa khu vực và trên thế giới [132, tr.
Chính những giao lu này đã kết nối, duy trì và phát triển văn hóa Việt Nam cùng nền văn hóa khu vực. Với tiềm năng về các tài nguyên khoáng sản, thủy sản, từ lâu biển đã trở thành không gian sinh tồn của ngời Việt. Trong một tầm nhìn rộng hơn, nguồn tài nguyên đó càng trở nên thiết yếu trong các mối liên hệ vòng - liên vòng, trong tầm nhìn biển — lục địa và các liên hệ trong nớc — quốc tế. Con đờng tơ lụa và gốm sứ trên biên (Maritime Silk Road, Maritime Porcelain Road) néi Dia Trung Hai, An D6 Dong voi Thai Binh Dong da hinh thành nên một đời sống hàng hải sôi động trên Biển Đông trong nhiều thé ki.
Vì nhiều nguyên nhân, đến thế kỉ IX — X, các thuyền buôn từ Đông Bắc Á cũng nh Đông Nam A và Tây Nam Á đồn về vịnh Bắc Bộ, các thơng cảng thuộc Champa để trao đổi buôn bán. Thời kỳ này, biển Việt Nam đóng vai trò quan trọng không chỉ trong quan hệ với Trung Quốc ở phơng bắc mà còn là cửa ngõ buôn bán thông thơng cua Champa, Ai Lao, Chan Lap ở phía nam. Trong thời kỳ Kỷ nguyên thơng mại châu Á (The Age of Commerce), thuyền của các thơng nhân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp đã tích cực cập bến nhiều quốc gia ở phơng Đông. Việt Nam nhanh chóng tham gia vào mạng lới hải thơng khu vực.
Sự hng thịnh của thơng cảng Phố Hiến, Hội Thống, Hội An, Thanh Hà, Nớc Mặn. là minh chứng cho vị thế kinh tế quan trọng của vòng biển Việt Nam. Chính vị thế quan trọng trong kinh tế đã quy định vị thế địa - chính trị. La con đờng huyết mạch của thế giới, Biển Đông nhanh chóng trở thành địa bàn quen thuộc của các toán cớp biển đến từ Java, Nhật Bản, Trung Hoa.
Trong nhiều thế ki, hoạt động tiễu trừ cớp biển và kiểm soát các vùng biển là hoạt động đợc duy trì thờng xuyên của các chính thê quân chủ Việt Nam. Không những thế, sự đe dọa thuyền buôn bởi các cơn bão biên, các đải đá ngầm cũng đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trong việc đảm bảo an toàn hàng hải, an ninh khu vực của những ngời đứng đầu Nhà nớc. Điều đó cho thấy, biển không chỉ là không gian kết nối mạng lới kinh tế, văn hóa mà còn là trung 15 tâm chính trị của quốc gia, khu vực và quốc tế. Ở đó, các quan hệ mâu thuẫn mang tính thời đại đợc thể hiện và giải quyết: quan hệ lợi ích, quan hệ truyền thống và phi truyền thống, quan hệ giữa nhà nớc và thơng nhân, quan hệ quan phơng và phi quan phơng.
Không dừng lại ở đó, vị thế địa — chính trị, địa — quân sự của vùng biển Việt Nam còn đợc tạo nên bởi hệ thống đảo và quần đảo phong phú lên tới trên 4000 đảo lớn nhỏ. Hệ thống các đảo tiền tiêu có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của đất nớc. Trên các đảo này, có thé lập các căn cứ quân sự nhằm kiểm soát vòng biên, vùng trời cũng nh các hoạt động qua lại của tàu thuyền. Hoàng Sa, Trờng Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo là những đảo, quần đảo mang trọng trách quan trọng Ấy.
Với cái nhìn địa chính trị khu vực, hai quần đảo xa bờ của Việt Nam là Hoàng Sa và Trờng Sa ngoài việc đem lại nguồn lợi kinh tế to lớn còn cho phép kiểm soát và khống chế các hoạt động trên mặt biên của các quốc gia bao quanh và kiêm soát trực tiếp hoạt động giao thông vận tải biển của thế giới qua lại quanh các đảo này. Điều này cũng lí giải nguyên nhân các tranh chấp về lợi ích của nhiều quốc gia ở Biển Đông, Hoàng Sa và Trờng Sa luôn là vấn đề mang tính thời sự ở khu vực. Do hội tụ đủ các vị thế địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa cùng nguồn tài nguyên phong phú nên trên các không gian biển Việt Nam đã diễn ra các quan hệ song phơng, đa phơng từ rất sớm, có tầm ảnh hong nhất định đến tình hình chung của khu vực. Dò tự nguyện hay ép buộc thì biển đã trở thành một phần máu thịt, không gian sinh tồn của bao lớp ngời Việt bởi lẽ “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Các thách thức do tự nhiên gây ra trên biển Vòng biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới âm gió mùa. Từ xa xa, con ngời sống trên mảnh đất hình chữ S đã gắn bó mật thiết với biển khơi. Biển đảo không chỉ mang lại nguồn tài nguyên quý giá mà còn là cánh cửa rộng lớn trong quá trình giao lu hội nhập với các nớc trên thế giới. Nằm trong những tuyến đờng biển quan trọng, vùng có mật độ hàng hải đông trên thế giới, nớc ta đã liên tục đón nhận sự qua lại của các đoàn thuyền và thơng nhân nớc ngoài tới buôn bán, thuyền chở các nhà thám hiểm, các nhà địa lý, tu sĩ, giáo sĩ trên thế giới đã đến đây từ rất sớm.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi biển mang lại thì sự rộng lớn của lãnh hải biển cũng đặt ra nhiều thách thức cho các triều đại phong kiến trong việc quản lý các tàu thuyền đi lại trên mặt 16 biển. Điển hình là những khó khăn do đặc điểm tự nhiên trên biển gây ra nh bão, gió lớn, đá ngầm, cát ngam,. Tình hình gió, bão và ảnh hỏng của gió bão trên biển Vùng biển Việt Nam là khu vực chịu nhiều thiên tai bão tố, biển đổi khí hậu. Bão là một trong những hiện tợng thời tiết nguy hiểm, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trên phạm vi rộng.
Thuật ngữ bão đợc hiểu là trạng thái nhiễu động của khí quyên và một loại hình thời tiết cực trị. Bão mạnh thờng kết hợp với gió to, ma lớn và những hiện tợng thời tiết kèm theo nh nớc dâng, sóng lớn là hiện tợng thời tiết phổ biến trên vòng biển Việt Nam. Là một bộ phận của Biên Đông, vì thế vòng biển nớc ta cũng chịu anh hong trực tiếp các đặc điểm khí hậu, hải văn của Biển Đông. Bão trên vùng biển Việt Nam là bão nhiệt đới xảy ra những lúc giao mùa, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 9 và giảm dần đi từ tháng 10, đôi khi kéo dài đến tận tháng 1 năm sau.
Tuy là khu vực có nhiều bão nhng Biển Đông lại không phải là nơi phát sinh những trận bão nhiệt đới. Không tới 1% giông bão phát sinh từ Biển Đông mà 2/3 các trận bão từ Thái Bình Dong thổi về qua khu vực Hoàng Sa — Trờng Sa [92, tr.