CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH AN NINH VÀ PHÒNG THỦ CHUNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU TỪ 2007 ĐẾN 2020 1. Các khái niệm cơ bản: 1. Khái niệm về an ninh Theo khái niệm của Thư viện pháp luật, “An ninh” là trạng thái bình yên của xã hội, của nhà nước, sự ổn định vững chắc của chế độ chính trị xã hội. An ninh quốc gia bao gồm an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, an ninh về tất cả các lĩnh vực chính trị kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội… trong đó chủ yếu có an ninh chủ quyền độc lập, an ninh lãnh thổ… Các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia được quy định là các tội nguy hiểm nhất trong các tội hình sự và có khung hình phạt cao nhất.
An ninh là khái niệm cơ bản trong quan hệ quốc tế. Việc hiểu rõ được mặt bản chất của an ninh, những ảnh hưởng trong và ngoài sẽ giúp lý giải được hành vi của các chủ thể có liên quan. “An ninh” còn được định nghĩa là sự tự do trước nỗi sợ hãi và lo lắng. [27] Từ điển của Bộ Quốc Phòng Mỹ định nghĩa “an ninh” bao gồm ba yếu tố.
Một, là những biện pháp được thực hiện hoặc một hoạt động nhằm bảo vệ bản thân trước kế hoạch thù địch. Hai, là kết quả của việc thành lập và duy trì biện pháp nhằm đối phó với các hành vi thù địch. Ba, là sự ngăn chặn trước những xâm phạm trái phép tới các vấn đề, lợi ích của quốc gia. [28] Trong Từ điển quân sự Việt Nam, “an ninh” được định nghĩa là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực trong hoạt động xã hội hoặc của an toàn xã hội.
Có thể nói, “an ninh không phải là một khái niệm tĩnh mà là một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu, cũng như cách tiếp cận. Từ một ý niệm truyền thống xoay quanh các chủ đề quân sự, chiến tranh và bạo 9 lực, khái niệm an ninh với những kết nối mới đã mở ra những chiều kích xuất phát từ nhiều lĩnh vực khác nhau” [4, mục An ninh] 1. Khái niệm về phòng thủ “Phòng thủ” thường được hiểu là quá trình một chủ thể chuẩn bị để đối phó với các mối nguy hiểm dù đã hiện hữu hay tiềm tàng, sự tấn công của các thế lực thù địch bên ngoài. Chủ thể chủ yếu thực hiện quá trình phòng thủ thường là các quốc gia hoặc nhóm quốc gia và được triển khai bằng nhiều phương tiện và hình thức khác nhau.
“Phòng thủ” còn được hiểu là các khả năng được xem xét, kế hoạch triển khai nhằm chống lại trước sự tấn công hoặc gây tổn hại từ các thế lực thù địch, trước các cá nhân, tổ chức đến bản thân. Định nghĩa này cũng đúng khi tăng phạm vi lên cấp quốc gia, các thể chế,. [29] Xét về bản chất, phòng thủ là tạo ra sự ngăn ngừa, đảm bảo an ninh bằng cách dự báo và ngăn chặn các mối đe dọa. Chủ thể tiến hành phòng thủ có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện như quân sự hóa- dùng sức mạnh cứng với vũ khí, lực lượng quân đội, khí tài… để áp chế kẻ thù; hoặc dùng sức mạnh mềm với các công cụ kinh tế: viện trợ nhân đạo, đầu tư, hỗ trợ phát triển…; các công cụ văn hóa: tuyên truyền, giao lưu, hợp tác đào tạo…để tạo ra tầm ảnh hưởng và khả năng can thiệp vào các khu vực có nguy cơ tiềm ẩn.
Khái niệm về an ninh và phòng thủ chung Trong thế giới ngày càng phụ thuộc nhau, an ninh chung chính là con đường duy nhất tạo ra nền hòa bình ổn định thông qua việc thay đổi tư duy đã gây ra cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường, ngăn cản kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị. Từ đó, khái niệm an ninh và phòng thủ chung được biết tới thông qua 6 quy tắc sau: (1) Tất cả các dân tộc đều có quyền chính đáng được bảo đảm an ninh; (2) Sức mạnh quân sự không phải là công cụ chính đáng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia; (3) Cần phải kiềm chế trong việc thực hiện chính sách quốc gia; (4) Không thể đạt được an ninh bằng ưu thế về quân sự; 10 (5) Giảm và hạn chế chất lượng vũ khí cần thiết cho an ninh chung; (6) Tránh gắn thương lượng về vũ khí với các vấn đề chính trị. An ninh chung không hướng tới khái niệm an ninh rộng lớn hơn, trong đó, chủ thể tham chiếu là nhà nước và trọng tâm hướng tới vẫn là các mối đe dọa đến từ các quốc gia khác, bao gồm cả các mối đe dọa quân sự. Vì thế, “phòng thủ không tấn công” (Non-Offensive Defence - NOD) được coi là chiến lược quân sự tốt nhất, tăng cường khả năng phòng ngừa nhằm đạt được chiến lược an ninh.
Bên cạnh đó, khi các quốc gia tăng cường quân sự, nguy cơ chiến tranh tăng cao, NOD trở nên lỗi thời, nhiều học giả như Egon Bahr (Cựu Bộ trưởng Hợp tác Kinh tế Đức, nhiệm kì 1974 – 1976) đưa ra quan điểm an ninh chung là “chiếc ô” bao trùm an ninh tập thể, giải trừ quân bị, giải trừ vũ khí và ngăn chặn từ xa xung đột quốc tế. Phòng thủ chung hay còn gọi là phòng thủ tập thể là hình thức các quốc gia nhất trí hợp tác để tiêu diệt mối đe dọa từ một kẻ thù đã được xác định, dù là hiện thực hay tiềm tàng. Sự hợp tác này thường được triển khai dưới hình thức quan hệ liên minh, liên hiệp hay hiệp ước tương hỗ nhằm răn đe kẻ âm mưu xâm lược. Nhìn chung, khái niệm an ninh chung và phòng thủ chung đã có những thay đổi theo thời gian và tùy vào điều kiện và tình hình quốc tế.
Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo an ninh và phòng thủ vẫn luôn là vấn đề sống còn của các chủ thể trong môi trường quan hệ quốc tế vô chính phủ. Ngay khi muốn nâng cao vị thế và khẳng định tiếng nói của mình trên chính trường quốc tế, EU cũng đã xác định là sau khi hội nhập kinh tế sẽ buộc phải tiến tới hội nhập về chính trị đặc biệt là phòng thủ và an ninh. “Chính sách An ninh và Phòng thủ chung bao gồm quá trình cấp tiến hướng tới thiết lập một nền phòng thủ chung…”[18, article 42. Theo đó EU khẳng định an ninh và đảm bảo an ninh là “tạo dựng một khu vực không biên giới, tự do, bình đẳng và công lý cho công dân”.
Một cách khái quát nhất có thể hiểu an ninh chung, phòng thủ chung là cách thức các chủ thể tập hợp lại, sử dụng các hành động tập thể để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và đảm bảo hòa bình, ổn định. Lý thuyết quan hệ quốc tế Trong cuốn Lý thuyết quan hệ quốc tế (GS.TS Hoàng Khắc Nam chủ biên, Nxb Thế giới, 2017) có đưa ra một khái niệm về lý thuyết quan hệ quốc tế. Theo tác giả, Lý thuyết quan hệ quốc tế là tập hợp quan điểm tương đối bao quát về quan hệ quốc tế trên cơ sở lý luận chung. Đây là cách hiểu tương đối phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn nói chung cũng như trong lý thuyết quan hệ quốc tế nói riêng.
Việc nghiên cứu về lý thuyết quan hệ quốc tế giúp khái quát và mô tả thực tiễn quan hệ quốc tế, tìm hiểu được bản chất cũng như giải thích được các hiện tượng khác nhau trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh đó, lý thuyết quan hệ quốc tế còn có chức năng dự báo các xu hướng và xu thế vận động toàn cầu. Mỗi lý thuyết là một cách lý giải quan hệ quốc tế khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì vậy, những lý thuyết này tác động rất lớn đến việc hoạch định chính sách đối ngoại.
Việc nghiên cứu những quy luật và xu hướng vận động trong quan hệ quốc tế sau cùng cũng là để giúp cho giới lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách, nhà ngoại giao… có cái nhìn bao quát về tình hình quốc tế, trong cả hiện tại, quá khứ và tương lai, nhằm đưa ra một chính sách đối ngoại phù hợp, vừa đảm bảo được lợi ích quốc gia cũng như ứng phó được với những thay đổi toàn cầu. Do tác động to lớn của quan hệ quốc tế đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, những nghiên cứu về lý thuyết quan hệ quốc tế đã có từ lâu và hiện nay tồn tại rất nhiều các lý thuyết khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của khóa luận này chỉ tập trung và Chủ nghĩa Hiện thực, quan điểm của chủ nghĩa và ảnh hưởng tới CSDP. Chủ nghĩa Hiện thực (Realism).
Lý thuyết này cho rằng chúng ta đang tồn tại trong một môi trường vô chính phủ, và các quốc gia là chủ thể cao nhất trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia là các chủ thể đơn nhất (là một và thống nhất trong quan hệ với bên ngoài) và có lý trí (luôn tính toán để đạt được lợi ích cao nhất trong quan hệ quốc tế) [6, tr29]. Mục đích của các quốc gia chính là sự tồn vong, lợi ích cao nhất là an ninh và để làm được điều này thì quốc gia phải có quyền lực và phải cạnh tranh 12 quyền lực với các quốc gia khác. Do đó, Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng bản chất của quan hệ quốc tế là tình trạng xung đột.
Đối với EU, thể chế chính trị đa quốc gia này hiểu rõ sức mạnh quốc gia sẽ đem lại vị thế và ảnh hưởng trong quan hệ với các quốc gia khác ngoài khu vực và với thế giới, vì vậy đã tận dụng mọi nguồn lực để phát triển trong khu vực, đặc biệt là về kinh tế và quân sự, làm tiền đề cho ảnh hưởng chính trị - ngoại giao. Việc thực hiện hóa CSDP cũng chính là một biện pháp “an toàn” giúp EU có thể đạt được mục tiêu của mình trong các vấn đề như: khẳng định lại quyền lực khu vực trên các mối qua hệ quốc tế, tự bảo vệ bản thân khỏi các mối thù địch, giải quyết các vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong nội bộ EU, từ đó có tiếng nói hơn trong các vấn đề an ninh của thế giới. Cơ sở thực tiễn 1. Tình hình thế giới và Liên minh châu Âu từ 2007 đến 2020 1.
Bối cảnh thế giới Sự xuất hiện và điều chỉnh của CSDP những năm đầu thế kỉ XXI diễn ra trong giai đoạn tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển nhanh chóng, phức tạp.