CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Nguyễn PhướcThành 1. SƠ LƯỢC VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tên gọi Cây bình bát có tên khoa học là Annona reticulata hay còn gọi là nê thuộc họ na Annonaceae. Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Thực vật hạt kín(Magnoliophyta) Lớp: Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ: Ngọc lan (Magnoliales) Họ: Na (Annonaceae) Chi: Na (Annona) Loài: Bình bát (Annona reticulata) 1.2 Đặc điểm thực vật Cây gỗ nhỡ, sớm hay nửa rụng lá.
Thân cao 2 – 5 m, thậm chí đến 10 m. Lá đơn, mọc so le, nhọn hai đầu, có 8 - 9 cặp gân phụ, dài 10–15 cm và rộng 5–10 cm. Hoa vàng, hai vòng cánh, nhiều nhị đực và tâm bì. Quả hình tim (quả kép, như các loại na), mặt ngoài có từng ô 5 góc mở; thịt quả trắng hoặc hơi hồng, ăn được.
Hạt có tính sát khuẩn.3 Phân bố sinh thái Có nguồn gốc từ Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru. Thường phổ biến ở vùng đất thấp, có khí hậu nóng và ẩm. Loài này thường mọc hoang tại nhiều khu vực trên thế giới như Ấn Độ, Úc và châu Phi. Tại Việt Nam, thường mọc ven bờ kênh, rạch có nước phèn, nước lợ ở Nam Bộ.
Do chịu được phèn nên có thể làm gốc ghép cho mãng cầu xiêm. 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Nguyễn PhướcThành 1.4 Công dụng Theo tờ Diet Health Club, trái bình bát ngoài vị ngọt thanh còn chứa: vitamin C giúp chống gốc tự do gây lão hóa sớm; vitamin A giúp da và tóc khỏe, hỗ trợ thị lực; vitamin B6, magnésium, potassium, chất xơ tốt cho hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, có tác dụng lợi tiểu và giảm trầm cảm; có tính giảm co thắt, giảm a xít tại các khớp xương. ăn nhi Theo kinh nghiệm dân gian, trái bình bát chín ều trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở phụ nữ, chứng thiếu máu.
Trái bình bát xanh có chứa nhiều tannin, được sấy khô, nghiền thành bột dùng chữa tiêu chảy và bệnh lỵ. Vỏ cây giã nát dùngđ ắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng. Nước sắc vỏ cây bình bát được dùng như thức uống giải nhiệt. Hột bình bát từ những trái già, giã nhỏ, nấu với nước làm nước gội đầu (không nên để nước bắn vào mắt), hoặc ngâm quần áo để trừ chí, rận.
Ngoài ra, hột bình bát đốt thành tro, trộn với dầu dừa bôi chữa ghẻ rất hay. Nhưng lưu ý là t ất cả các cách nói trên đều phải tham khảo ý kiến nhà chuyên môn khi áp dụng. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ACETOGENINS TRONG HẠT HỌ MÃNG CẦU[2,3,4] Acetogenins là một nhóm lớn các polyketide (C32 hoặc C34 acid béo) có cấu trúc độc đáo, hợp chất này được tìm thấy trong họ Annonaceae, trong đó bao gồm cả hai chi Annona và Asimina. Các hợp chất này ức chế mạnh chất của ty lạp thể (phức tạp) cũng như các tế bào chất (Kỵ khí) sản xuất adenosine triphosphate (ATP) và nucleotide.
Các hợp chất Acetogenin thể hiện độc tố mạnh mẽ và hiển thị trong cơ thể chống ung thư, diệt côn trùng, thuốc chống sốt rét, kháng virus , và kháng khuẩn…cho thấy nhiều khả năng ứng dụng hữu ích. Về mặc thương mại, hợp chất này có thể sử dụng dùng làm thuốc trừ sâu bằng cách phun xịt trực tiếp hoặc bổ sung vào chế độ ăn. Ứng dụng và sản phẩm thương mại bao gồm một loại dầu gội để điều trị nhiễm chấy rận, bọ chét, ve, một loạt các thuốc xịt diệt côn trùng[2]. 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS.
Nguyễn PhướcThành Acetogenins có tác dụng là chất độc tác dụng chậm và đặc biệt hiệu quả chống lại côn trùng nhai [3]. Các hợp chất Acetogenin độc hại đối với một số côn trùng có hại, bao gồm cả gián, Colorado khoai tây, bọ cánh cứng, ấu trùng loài ruồi, bọ cánh cứng đậu Mexico và ấu trùng, đậu lá bọ cánh cứng, ấu trùng muỗi, nhện hai đốm , ve, bọ cánh cứng dưa chuột sọc, sâu đục thân ngô, dưa hoặc bông rệp vừng, và giun tròn [4 – 7]. Các nghiên cứu trước đây[8,9] đã xác đ ịnh được hơn 40 Acetogenins từ các bộ phận khác nhau của các cây thuộc họ mãng cầu, trong đó riêng về hạt đã có 23 Acetogenins phân lập từ hạt của họ này được công bố đó là uvarigrandin A (1), squamocin (2), motrilin (3), bullatacin (4), neo-expoxyrolin (5), neo- desacetyluvaricin (6), annonareticin (7), epoxyrolin B (8), murisolin(9), squamostatin C (10), annoglaxin (11), squamin-A (12), erythritol (13), D,L-threitol (14), D-mannitol (15), stigmasterol(16), heptadecanoic acid (17), nonadecanoic acid (18),stearic acid (19)[8], dieposabadelin (20), squamocenin (21), lepirenin (22) và dotistenin (23)[9] (1-19) [8]Xiang Li, Xiao-Ling Chen, Jian-Wei Chen,and Dong-Dong Sun Annonaceous acetogenins from the seeds of Annona squamosa Chemistry of Natural Compounds, Vol. 1, 2010 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS.
Nguyễn PhướcThành (20-23) [9]Annonaceous acetogenins: Precursors from the seeds of Annona squamosa Phytochemistry LettersVolume 2, Issue 2 , 29 April 2009, Pages 72–76 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Nguyễn PhướcThành 1.NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ CHẾ PHẨM DIỆT CÔN TRÙNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐỂ DIỆT CÔN TRÙNG TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1. Chế phẩm diệt côn trùng sinh học Những chế phẩm sinh học được sản xuất ra từ các loại thảo dược hay các chủng vi sinh vật được nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng khác nhau theo phương pháp thủ công, bán thủ công hoặc phương pháp lên men công nghiệp để tạo ra những chế phẩm có chất lượng cao, có khả năng phòng trừ được các loại sâu, bọ gây hại cây trồng nông, lâm nghiệp. Thật ra các loại thuốc trừ sâu sinh học đã được bà con nông dân sử dụng từ lâu đời như một kinh nghiệm sống.
Ví dụ như: lá sầu đâu (xoan đào), cây thuốc cá, mủ đu đủ, mủ xương rồng, mủ vú sữa. đã được bà con sử dụng từ bao đời nay để diệt sâu bọ, cua, ốc cắn phá cây trồng. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại cây, lá trên để diệt trừ sâu bọ gây hại đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian. Để khắc phục khó khăn đó, các nhà khoa học trên thế giới đã đ ầu tư nghiên cứu để chiết xuất ra các hoạt chất, tạo thành một dòng các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, chủ yếu là trừ sâu, trừ nấm bệnh và kích thích sinh trưởng như khuẩn Bacillus thuringiensis (BT), nấm Trichoderma, hoạt chất Azadirachtin, bột neem (chiết xuất từ cây neem - xoan đào), Karanjin - chiết xuất từ cây hoa đào Ấn Độ, Matrine - chiết xuất từ cây khổ sâm, Saponin - bã trà, abamectin, emamectin benzoate.
và hoạt chất được sản xuất để diệt trừ sâu, bọ mới đây nhất là hoạt chất Methylamine avermectin. Các dòng sản phẩm này có cơ chế hết sức đa dạng như gây độc hệ thần kinh, gây rối loạn tiêu hóa, hay cản trở quá trình lột xác của sâu bọ. có hiệu quả trên hầu hết các loại sâu bọ trên đồng ruộng. Xu hướng sử dụng chế phẩm diệt côn trùng trong nước và trên thế giới Tỷ lệ số người mắc bệnh ung thư ở Việt Nam do báo thanh niên điều tra cho thấy ngày càng tăng.
Bệnh ung thư do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng phổ biến nhất là những nguy cơ từ nguồn thức ăn và nước uống mà người Việt Nam sử dụng hàng ngày. 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Nguyễn PhướcThành Người Việt chúng ta ăn nhiều rau và đặc biệt ưa thích ăn rau sống. Trong khi đó, việc sử dụng tràn lan các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học như hiện nay trên đồng ruộng sẽ dẫn đến nguy cơ chúng ta ăn phải các loại nông sản còn dư lượng thuốc quá nhiều, đó là nguyên nhân gây ra ngộ độc cấp hay tích lũy dần trong cơ thể sinh ra các bệnh tật sau này, đặc biệt là bệnh ung thư rất lớn.
Vấn đề này đang được cả xã hội và các cấp quản lý xem như là một hồi chuông báo động ở mức cao nhất. Trong khi đó, sử dụng chế phẩm có nguồn gốc sinh học lại không gây ra những hậu quả như trên do thời gian cách ly ngắn, an toàn đối với người sử dụng nên loại thuốc này đang được bà con nông dân và các cấp quản lý đặc biệt chú ý. Tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học đang là xu hướng chung của VN và thế giới. Các chế phẩm sinh học có các ưu đ iểm như: không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng.
Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái, cân bằng hệ sinh thái, góp phần tăng độ phì nhiêu của đất, có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong danh mục các loại chế phẩm có nguồn gốc sinh học có gần 500 sản phẩm sinh học được phép lưu hành, trong đó có 300 loại thuốc trừ sâu và 98 sản phẩm thuốc trừ bệnh. Một số sản phẩm tiêu biểu như chế phẩm từ nhân hạt cây neem hiện nay đã đư ợc đưa vào ứng dụng rộng rãi trong công tác BVTV, có hiệu lực phòng trừ nhiều loại sâu hại trên cây trồng như lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn trái, hoa kiểng. Loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc này không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng đến thiên địch và không để lại dư lượng trên cây trồng.
Thuốc tác động đến côn trùng gây hại bằng cách gây sự ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác của côn trùng cũng như ngăn cản sự đẻ trứng là giảm khả năng sinh sản. Tuy nhiên, hiện nay việc nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu hại ở Việt Nam chủ yếu ở trong phòng thí nghiệm và quy mô sản xuất thử 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Nguyễn PhướcThành nên giá thành còn cao, thời gian bảo quản các chế phẩm có nguồn gốc sinh học ngắn nên dẫn tới khó khăn trong việc bảo quản, lưu thông, phân phối và sử dụng. Giải thích một số thuật ngữ liên quan 1.
Nồng độ, liều lượng - Nồng độ: lượng thuốc cần dùng để pha loãng với 1 đơn vị thể tích dung môi, thường là nước. - Liều lượng: lượng thuốc cần áp dụng cho 1 đơn vị diện tích (đơn vị tính là kg/ha, lít/ha ). Dịch hại: là những sinh vật, vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản, làm thất thu năng suất hoặc làm giảm phẫm chất nông sản. Các loài dịch hại thường thấy là sâu, bệnh, cỏ dại, chuột, cua, ốc, tuyến trùng, nhện.
Phổ tác động: là nhiều loài dịch hại khác nhau mà loại thuốc đó có thể tác động đến. - Phổ rộng: thuốc có thể trừ được nhiều dịch hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau.