Chương 1. Khung lý thuyết về chia sẻ lợi ích trong phát triển bền vững rừng đặc dụng Chương 2. Thực trạng chia sẻ lợi ích trong phát triển bền vững rừng đặc dụng tại VQG Bạch Mã. Giải pháp tăng cườngchia sẻ lợi ích trong phát triển bền vững rừng đặc dụngtại VQG Bạch Mã.
CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CHIA SẺ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG RỪNG ĐẶC DỤNG 1. Phát triển bền vững rừng đặc dụng 1. Các vấn đề chung về rừng đặc dụng Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng(Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng).
Rừng đặc dụng là loại rừng đƣợc xác lập theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trƣờng. Rừng đặc dụng đƣợc phân loại thành 4 nhóm sau đây: Vƣờn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. Phát triển bền vững rừng đặc dụng Định nghĩa phát triển bền vững rừng đặc dụng đƣợc phát triển bởi Hội nghị Bộ trƣởng về bảo vệ các khu rừng ở châu Âu (MCPFE), và từ đó đã đƣợc chấp nhận bởi Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp (FAO). Định nghĩa phát triển rừng bền vững nhƣ sau:Việc quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp với tỷ lệ duy trì đa dạng sinh học, năng suất đảm bảo khả năng tái sinh, sức sống và tiềm năng của rừng đặc dụnghiện tại và trong tƣơng lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội liên quan, tại cấp địa phƣơng, quốc gia và toàn cầu, và điều đó không gây thiệt hại cho các hệ sinh thái khác.Trong điều kiện đơn giản, khái niệm có thể đƣợc mô tả nhƣ là việc đạt đƣợc sự cân bằng giữa các nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đối với lâm sản, lợi ích từ rừng đặc dụng, và sức sống, bảo tồn đa dạng sinh học rừng đặc dụng.
Sự cân bằng này là rất quan trọng cho sự sống còn của rừng, và sự phát triển của cộng đồng phụ thuộc vào rừng.Việc xây dựng các phƣơng pháp tiếp cận để phát triển rừng bền vững đòi hỏi sự hài hòa các hoạt động của con ngƣời với các khía cạnh sinh học và vật lý của các hệ sinh thái rừng. Đối với các nhà quản lý rừng, phát triển bền vững rừng đặc dụng có nghĩa là xác địnhlàm thế nào để việc sử dụng rừng trong hiện tại đảm bảo lợi ích tƣơng tự, sức sống và giá trị đa dạng sinh học của rừng đặc dụng trong tƣơng lai. Phát triển bền vững rừng đặc dụng phải đánh giá và tích hợp một loạt các yếu tố đôi khi mâu thuẫn về giá trị thƣơng mại và phi thƣơng mại, vấn đề môi trƣờng, nhu cầu cộng đồng, thậm chí tác động toàn cầu. Trong hầu hết các trƣờng hợp, các nhà quản lý xây dựng các kế hoạch phát triển rừng bền vững dều cần tham khảo ý kiến của ngƣời dân, doanh nghiệp, các tổ chức và các bên quan tâm khác trong và xung quanh các khu rừng đặc dụng.
Ngành lâm nghiệp, có lẽ hơn bất kỳ ngành nào khác, là vị trí tốt trong việc thực hành phát triển bền vững. Các cộng đồng lâm nghiệp đang quen với một tầm nhìn dài hạn; lâm nghiệpbao gồm kiến thức từ phản ứng của các hệ sinh thái rừng đến rối loạn tự nhiên và con ngƣời; các nguyên tắc duy trì năng suất trong lâm nghiệp đƣợc áp dụng một các linh hoạt. So với nhiều ngành công nghiệp khác, các bên tham gia phát triển bền vững rừng đặc dụng tƣơng đối dễ dàng hơn để mở rộng phạm vi từ sản lƣợng bền vững để phát triển bền vững, đòi hỏi một sự thay đổi từ phát triển rừng đến phát triển hệ sinh thái rừng. Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 đƣợc lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, chƣơng trình, dự án khác để nâng cao hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trƣờng, bảo đảm an ninh, quốc phòng, góp phần phát triển bền vững của đất nƣớc, cụ thể: Thứ nhất, về kinh tế: năng suất, chất lƣợng rừng đƣợc nâng lên sẽ góp phần tạo nguồn cung cho công nghiệp chế biến và nhu cầu gỗ trong nƣớc, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu; đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp về chế biến và thị trƣờng lâm sản sẽ góp phần đáng kể tăng giá trị gia tăng của ngành lâm nghiệp.
Thứ hai, về xã hội: kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đƣợc triển khai sẽ tạo việc làm và thu nhập các hộ gia đình nông thôn, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; hoàn thành công tác giao đất, gắn với giao rừng sẽ tạo tâm lý yên tâm đối với các nhà đầu tƣ đầu tƣ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; công tác tuyên truyền về vai trò, tầm quan trọng của rừng đƣợc đẩy mạnh sẽ góp phần tiếp tục nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng của toàn xã hội. Thứ ba, về môi trƣờng: Tạo ngƣỡng an toàn về môi trƣờng sinh thái cho Việt Nam, sẵn sàng ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng, đặc biệt là ở vùng ven biển, nơi xung yếu, lƣu vực các con sông lớn, đồng thời đảm bảo duy trì đa dạng sinh học,. Nguyên tắc phát triển bền vững rừng đặc dụng Khi thực hiện hay xây dựng các kế hoạch phát triển bền vững rừng đặc dụng, cần phải tuân thủ đúng theo các nguyên tắc sau đây: Hạn chế tối đa tác động của con ngƣời vào sinh quyển (phạm vi cho phép, tức là phạm vi chịu tải của nó) nhằm duy trì kho tài nguyên sinh học với tính đa dạng của nó. Sử dụng các loại tài nguyên tái tạo đƣợc hoặc tái tạo lại để giảm cƣờng độ khai thác và sử dụng tài nguyên không tái tạo đƣợc bằng cách thay thế.
Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trƣờng, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nƣớc và địa phƣơng; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tƣớng Chính phủ quy định. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngƣ nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng. Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nƣớc với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trƣớc mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho ngƣời làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng.
Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng: Cuộc sống con ngƣời luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó, chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận.Theo định nghĩa Brundtland thì phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng đƣợc các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hƣởng đến các khả năng của các thế hệ tƣơng lai đáp ứng đƣợc các nhu cầu của họ”. Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên rừng ở cùng thế hệ : Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế hệ tƣơng lai thì chúng ta vẫn chƣa tạo đƣợc những cơ hội bình đẳng cho những ngƣời sống ở thế hệ hiện tại. Đảm bảo tính hiệu quả. Tài nguyên rừng phải đƣợc sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái.
Chia sẻ lợi ích trong phát triển bền vững rừng đặc dụng 1. Tổng quan về chia sẻ lợi ích 1. Chia sẻ lợi ích Chia sẻ lợi ích là hoạt động duy trì các quyền bình đẳng của tất cả các tầng lớp nhân dân, các dân tộc và giới tính của xã hội với không khí, nƣớc và thực phẩm cần thiết cho các quá trình sống hay tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả rừng, sông, suối, đất đai và các dịch vụ thu đƣợc từ chúng đều cần thiết cho cuộc sống và chia sẻ lợi ích nhận đƣợc từ các nguồn tài nguyên và các dịch vụ dựa trên những hạn chế và tiêu chuẩn nhất định. Với mục tiêu là để đảm bảo những lợi ích thu đƣợc từ các nguồn và các dịch vụ môi trƣờng có sẵn cho ngƣời nghèo và các cộng đồng khó khăn, phân biệt đối xử tích cực đƣợ thực hiện.
Chỉ sau khi áp dụng tích cực phân biệt đối xử, vốn chủ sở hữu hoặc bình đẳng của các cấp độ cao nhất có thể đạt đƣợc. Cộng đồng địa phƣơng đã đƣợc tuyên bố lợi ích đƣợc tạo ra bởi những đóng góp của họ để bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên. Chia sẻ lợi ích có nghĩa là chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế hay lợi ích thu đƣợc từ bất kỳ nguồn tài nguyên môi trƣờng. Những lợi ích này cũng dựa trên nguyên tắc chia sẻ công bằng lợi ích.
Công ƣớc Đa dạng sinh học năm 1992 cũng đã chấp nhận nguyên tắc này.