CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM CỦA VIỆT NAM 1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƢỚC 1.1 Khái niệm và phân loại ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Công nghiệp chế biến thực phẩm là một bộ phận của ngành công nghiệp, sử dụng phần lớn nguyên liệu do nông nghiệp cung cấp để chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị 5. Trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia, phân loại toàn bộ hoạt động sản xuất ra làm ba nhóm ngành lớn: công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; và những ngành dịch vụ (sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nƣớc) 6. Trong đó, CNCBTP là phân ngành của ngành CNCB. Công nghiệp chế biến thực phẩm rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, về quy trình công nghệ, mức độ chế biến,.Căn cứ vào sự giống nhau về công dụng cụ thể của sản phẩm cũng nhƣ nguyên liệu chế biến thì CNCBTP bao gồm các ngành kinh tế – kỹ thuật sau: + Ngành chế biến lƣơng thực: xay sát, sản xuất mì ăn liền, làm bánh, bún; + Ngành chế biến thuỷ sản; + Ngành chế biến thịt, sữa và các sản phẩm từ thịt, sữa; 5 Ngô Đình Giao (1998), Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, trang 5.
6 Lê Xuân Hoa (1997), Phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà nội, trang 28. 6 + Ngành chế biến nƣớc giải khát: bia, nƣớc ngọt, nƣớc khoáng, chè,.; + Ngành chế biến đƣờng, bánh kẹo; + Đồ hộp rau, quả; và + Ngành chế biến dầu ăn, các loại nƣớc chấm, các loại gia vị 7.2 Vị trí của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Công nghiệp có vị trí trọng yếu trong phát triển kinh tế của các quốc gia. Do vậy, ngành này luôn đƣợc các Chính phủ quan tâm đầu tƣ thích đáng. Đối với nƣớc ta, trong quá trình phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nƣớc xác định công nghiệp là ngành chủ đạo, phát triển công nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và X của Đảng, trong “Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2010, tầm nhìn 2020” và “Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp 5 năm 2006 – 2010” đã nêu rõ ngành công nghiệp nƣớc ta tiếp tục giữ vai trò động lực, quyết định trong phát triển kinh tế và “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu đó, ngành công nghiệp định hƣớng phát triển theo ba nhóm, đó là: nhóm ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh; nhóm ngành công nghiệp sản xuất tƣ liệu sản xuất; và nhóm ngành công nghiệp tiềm năng. Nhƣ vậy, theo quan điểm đó ngành CNCBTP nƣớc ta đƣợc xếp vào nhóm ngành đang có lợi thế cạnh tranh và cần đƣợc ƣu tiên, hỗ trợ phát triển. Đồng thời, để tạo bƣớc nhảy vọt cho ngành công nghiệp, trên cơ sở các ngành công nghiệp đang có lợi thế so sánh, cần có những chính sách phát triển phù hợp cho những ngành có hiệu quả, trong đó có ngành CNCBTP, để ngành này trở thành ngành công nghiệp trọng điểm, bởi vì: (i) CNCBTP là ngành thu hút nhiều 7 Ngô Đình Giao (1998), Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 10.
7 lao động, tạo thêm công ăn việc làm ở nông thôn và thành thị. Nhờ đó, thu nhập của ngƣời lao động tăng lên, cầu có khả năng thanh toán cũng tăng theo, trong đó có cầu về lƣơng thực, thực phẩm. Điều này lại có tác động thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh hơn để có thu nhập quốc dân cao hơn; (ii) trong điều kiện nền kinh tế nƣớc ta còn nghèo và kém phát triển, tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp, vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh CNH – HĐH còn thiếu thì vấn đề phát triển các ngành nông, lâm, thuỷ sản, phát triển mạnh ngành CNCBTP cả về số lƣợng, chủng loại và chất lƣợng xuất khẩu có ý nghĩa to lớn trong việc tăng tích luỹ cho nền kinh tế; và (iii) sự phát triển của ngành CNCBTP không đòi hỏi lƣợng vốn lớn nhƣ các ngành công nghiệp nặng, song lại sớm đem lại kết quả và hiệu quả kinh tế – xã hội. Chính vì vậy, trong chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta đã coi trọng phát triển lƣơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là ba chƣơng trình kinh tế lớn.
Định hƣớng phát triển ba chƣơng trình này cũng là định hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả trong thời kỳ đổi mới kinh tế hiện nay. Đồng thời, Việt Nam có khả năng có khả năng phát triển ngành CNCBTP thành ngành trọng điểm vì: (i) nƣớc ta là nƣớc nông nghiệp với khoảng gần 75% dân số sống ở nông thôn, hơn 55% lao động xã hội làm việc ở khu vực nông nghiệp8, nguồn lao động dồi dào, phong phú, chi phí lao động rẻ, trình độ văn hoá của nhân dân đƣợc xếp vào loại khá trong khu vực. Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển ngành CNCBTP cả ở thành thị và nông thôn, đặc biệt là nông thôn; (ii) tiềm năng của nguồn nguyên liệu cho việc phát triển mạnh CNCBTP khá lớn. Nếu tổ chức tốt, đầu tƣ thích đáng và có chính sách khuyến khích hợp lý cho phát triển tập trung các vùng nguyên liệu, 8 TCTK, Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế – xã hội 2006.
8 khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển thì sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ số lƣợng, đáp ứng tốt về chất lƣợng nguyên liệu cho nhu cầu phát triển mạnh CNCBTP trong nƣớc và xuất khẩu; và (iii) các nƣớc trong khu vực và thế giới đang có nhu cầu lớn về số lƣợng và đòi hỏi chất lƣợng cao đối với thực phẩm chế biến, đặc biệt là trong thời điểm dịch cúm ở gia cầm và virut ở gia súc đang bùng phát mạnh hiện nay, điều này vừa là thách thức, song cũng là cơ hội nếu chúng ta khống chế và tiến tới dập tắt đƣợc dịch để có điều kiện thu hút các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc.3 Vai trò của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Sự phát triển của CNCBTP có vai trò rất quan trọng không chỉ với bản thân ngành công nghiệp mà đặc biệt đối với phát triển của nông nghiệp, nông thôn: thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hoá lớn, hình thành các vùng thâm canh, sản xuất tập trung, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn và tạo điều kiện quan trọng cho thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn. Thông qua chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp tăng lên gấp nhiều lần. Theo tính toán của các chuyên gia trong ngành, sau khi tinh chế, giá trị của nông sản có thể tăng từ 4 đến 10 lần so với giá trị trƣớc khi chế biến 9. Mặt khác, qua chế biến, từ một sản phẩm nông nghiệp, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm rất khác nhau, thậm chí tạo ra những đặc tính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm nông nghiệp, từ đó đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân và là nguồn xuất khẩu quan trọng, đẩy mạnh giao lƣu hàng hoá với các nƣớc, đóng góp không nhỏ cho ngân sách Nhà nƣớc.
Phát triển CNCBTP góp phần rất quan trọng vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho lực lƣợng lao động ở nông thôn, đặc biệt là qua việc phát triển hệ 9 Ngô Đình Giao (1998), Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, trang 18. 9 thống các cơ sở chế biến ngay tại nông thôn. Từ đó, làm tăng thu nhập cho dân cƣ. Ở khía cạnh khác, chính CNCBTP tạo ra khả năng mở rộng thị trƣờng tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc của yếu tố thời gian, thời vụ và khoảng cách đối với tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp.
Sự phát triển của CNCBTP còn làm tăng nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn. Phát triển CNCBTP góp phần nâng cao tiềm lực của nền kinh tế, tạo ra cơ cấu kinh tế có khả năng cạnh tranh cao hơn do phát huy đƣợc lợi thế so sánh của đất nƣớc. Phát triển CNCBTP góp phần vào phát triển nền công nghiệp sạch và bền vững: trƣớc yêu cầu của việc sản xuất tập trung, thâm canh, công tác quy hoạch sẽ tránh đƣợc việc phân tán, manh mún trong chăn nuôi, giết mổ, chế biến nhƣ hiện nay, hình thành nên các khu vực sản xuất tập trung, khép kín giúp cho việc sử dụng hiệu quả sản phẩm phụ, xử lý triệt để ô nhiễm môi trƣờng. Đối với những nƣớc có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, phát triển CNCBTP có ý nghĩa rất to lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ những ngành kém hiệu quả hơn sang ngành có hiệu quả cao hơn.
CNCBTP chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất khá cao trong ngành công nghiệp, khoảng 25% đối với các nƣớc đang phát triển; từ 10% đến 15% ở các nƣớc phát triển, còn ở nƣớc ta năm 1998 là 24,5%10, năm 2005 là 20,95%.2 YÊU CẦU LỰA CHỌN PHƢƠNG ÁN CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM CỦA VIỆT NAM 10 Trƣơng Đoàn Thể (2000), Đổi mới công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong các doanh nghiệp CBTP ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐH KTQD, Hà Nội, trang 61.1 Quan niệm về chiến lược phát triển ngành Chiến lƣợc phát triển là hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn về quan điểm, mục tiêu tổng quát định hƣớng phát triển các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm các chính sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế – xã hội nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra trong khoảng thời gian dài11. Chiến lƣợc công nghiệp là một kế hoạch tổng thể dài hạn nhằm đạt đƣợc mục tiêu phát triển công nghiệp có khả năng cạnh tranh trên quy mô toàn cầu, là định hƣớng và cách thức phát triển công nghiệp mang tính toàn cục, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, định hƣớng xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển trung và ngắn hạn nền kinh tế – xã hội của quốc gia12.