CHƯƠNG I CHIẾN LƯỢC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG QUỐC GIA VIỆT NAM 1. CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC: 1. Các khái niệm về chiến lược phát triển: Có nhiều tác giả đã đề cập đến khái niệm về chiến lược : - Theo Fred R David :”Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn “. - Theo Alfred Chandler (Đại học Harvard): “chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản lâu dài của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hay tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đề ra”.
Porter (Đại học Harvard): “chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt, là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh, là tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động”. Các khái niệm trên đều giống nhau trên quá trình xác định nội dung, đó là chọn lựa mục tiêu, đề ra chương trình hoạt động và phân bố tài nguyên hợp lý giúp cho việc đạt được mục tiêu một cách tốt nhất. Ngày nay, môi trường kinh doanh ngày càng biến động, sự cạnh tranh càng lúc càng gay gắt, sự phát triển nhanh chóng của hệ thống giao thông, thông tin đã khiến các tổ chức hơn lúc nào hết phải quan tâm đến lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, chiến lược nhằm xác định trên những cơ sở vững chắc sức mạnh của một tổ chức so với đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, định hướng chiến lược phát triển ngành có thể được hiểu là xác định hướng đi của ngành nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội tối ưu. Để đạt được mục tiêu, nội dung định hướng chiến lược phải đề ra được chiến lược phát triển cũng như hệ thống các giải pháp thực hiện nhằm mang lại tính khả thi. Quản trị chiến lược: Như chúng ta đã biết, chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được 4 những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lược chức năng khác.
Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy hành động. Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được những mục tiêu đó, nó cho thấy rõ công ty đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì và công ty sẽ hoặc sẽ thuộc vào loại kinh doanh nào? Cho nên hiện nay có rất nhiều những khái niệm khác nhau về quản trị chiến lược, tuy nhiên có thể tập hợp các khái niệm theo các cách tiếp cận phổ biến sau: Cách tiếp cận về môi trường: “Quản trị chiến lược là một quá trình quyết định nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe dọa của môi trường bên ngoài”. Đặc điểm của cách tiếp cận này là làm cho công ty định hướng theo môi trường, khai thác cơ hội và né tránh rủi ro. Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: “Quản trị chiến lược là một bộ những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của một công ty”.
Cách tiếp cận này cho phép những nhà quản trị xác định chính xác hơn các mục tiêu của tổ chức, đó là nền tảng của quản trị đồng thời cũng cho phép quản trị sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức. Cách tiếp cận các hành động: “Qủan trị chiến lược là tiến hành sự xem xét môi trường hiện tạI và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định và kiểm soát việc thực hiện quyết định, nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai”’ Từ các cách tiếp cận trên chúng ta có thể có khái niệm: Theo Garry D.Smith: “quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm soát việc thực hiện các quyết định, nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp”. 5 Phân tích môi trường Xác định chức năng nhiệm vụ mục tiêu Phân tích, lựa chọn các P.án chiến lược Thực hiện chiến lược Đánh giá và kiểm tra thực hiện Sơ đồ 1.1: Các quy trình quản trị chiến lược 1. Phân tích môi trường: Cần thiết phải phân tích môi trường bởi lẽ đây là cơ sở cơ bản để hoạch định chức năng nhiệm vụ và hoạch định mục tiêu, giúp ta xác định việc gì cần làm để đạt được các mục tiêu và chức năng nhiệm vụ đề ra.
Môi trường của một ngành được phân định thành môi trường chung và môi trường nội bộ. Phân tích ma trận SWOT chính là phân tích về môi trường. Nghiên cứu môi trường là một quá trình phải tiến hành thường xuyên và liên tục, vì nó chính là điều kiện bảo đảm sự thành công của chiến lược. Môi trường chung: Đây là môi trường bao trùm lên hoạt động của tất cả các ngành.
Việc kiểm soát môi trường này nhằm đánh gía được những cơ hội và các mối đe dọa, những điểm mạnh và những điểm yếu. Các ảnh hưởng của môi trường chung đó là: kinh tế, văn hoá, chính phủ và chính trị, công nghệ, áp lực cạnh tranh. Môi trường nội bộ: Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh và yếu trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Các mục tiêu và chiến lược được lập ra nhằm tận dụng những điểm mạnh 6 và khắc phục những điểm yếu bên trong khu vực kiểm soát nội bộ để đạt được lợi thế tối đa.
Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm các lãnh vực chức năng như: nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính kế toán, nề nếp tổ chức chung. Xác định chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu: Sứ mạng của tổ chức là mục đích của tổ chức, lý do và ý nghĩa của sự ra đời và tồn tại của tổ chức. Việc xác định một bản tuyên bố về sứ mạng đúng đắn sẽ tạo cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn đúng các mục tiêu và các chiến lược của tổ chức. Mục tiêu của tổ chức là các tiêu đích hoặc kết quả cụ thể mà tổ chức muốn phấn đấu đạt được trong một khoảng thời gian nhất định.
Có 2 loại mục tiêu, đó là mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. - Mục tiêu ngắn hạn là các kết quả cụ thể mà tổ chức dự định đạt được trong chu kỳ quyết định tiếp theo (chu kỳ quyết định là khoảng thời gian cần thiết để thực hiện trọn vẹn một quyết định). Như vậy, mục tiêu ngắn hạn phải hết sức cụ thể và phải nêu ra được các kết quả tiêu đích một cách chi tiết. - Mục tiêu dài hạn là các kết quả mong muốn được đề ra cho một khoảng thời gian tương đối dài, thường dài hơn một chu kỳ quyết định.
Lựa chọn chiến lược: Để có thể lựa chọn chiến lược thích nghi, cần xem xét các chức năng nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức, kết hợp với việc phân tích môi trường kinh doanh, trên cơ sở đó đề xuất các chiến lược. Thực hiện chiến lược: Thực hiện chiến lược có nghĩa là huy động các nhà quản trị và nhân viên để thực hiện các chiến lược đã được lập ra. Việc thực thi chiến lược gồm việc phát triển các nguồn vốn cho chiến lược, các chương trình, môi trường văn hoá và đồng thời kết hợp với việc động viên nhân viên. Các hoạt động thực thi chiến lược ảnh hưởng đến tất cả các thành viên trong tổ chức.
Đánh giá và kiểm tra chiến lược: Giai đoạn cuối của quản trị chiến lược là đánh gía kiểm tra chiến lược. Tất cả chiến lược đều có khả năng thay đổi theo thời gian vì các yếu tố vi mô và vĩ mô thay đổi một cách thường xuyên. Do đó một khi chiến lược đã được chọn và triển khai thực hiện, phải luôn rà soát và tái thẩm định việc lựa chọn chiến lược thực sự hợp lý chưa. Các yêu cầu khi xây dựng và thực hiện chiến lược: Một là, chiến lược kinh doanh phải đạt được mục đích tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh.
Vì chiến lược kinh doanh chỉ thực sự cần thiết khi có cạnh tranh trên thị trường. Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược kinh doanh. Muốn đạt được yêu cầu này, khi xây dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp tận dụng thế mạnh chứ không dùng quá nhiều công sức cho việc khắc phục các điểm yếu tới mức không đầu tư gì thêm cho các mặt mạnh. Hai là, chiến lược kinh doanh phải bảo đảm sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh chứa đựng trong lòng nó yếu tố mạo hiểm mà các doanh nghiệp thường phải đương đầu. Do vậy, sự an toàn trong kinh doanh, nhiều khi lại là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Để đạt được yêu cầu này, chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, Trong đó khả năng rủi ro vẫn có thể xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất. Phải luôn luôn đề phòng tư tưởng xây dựng chiến lược chưa hiểu kỹ luận thuyết kinh doanh mạo hiểm.
Ba là, phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu. Việc xác định phạm vi kinh doanh trong chiến lược kinh doanh, phải bảo đảm sao cho khắc phục được sự dàn trải nguồn lực, hoặc tránh được tình trạng không sử dụng hết nguồn lực. Trong mỗi phạm vi kinh doanh nhất định, các doanh nghiệp có thể đặt ra mục tiêu cần đạt tới phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Việc định mục tiêu này phải rõ ràng và phải chỉ ra được những mục tiêu cơ bản nhất, then chốt nhất.
Đi liền với mục tiêu cần có hệ thống các chính sách, biện pháp và điều kiện vật chất, kỹ thuật, lao động làm tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu ấy. Những vấn đề lớn này trong chiến lược kinh doanh không nên thể hiện trên những bản thuyết minh dài, trái lại cần hết sức ngắn gọn, súc tích. Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng, các chiến lược kinh doanh của những doanh gia gần như có một đặc điểm chung là: đơn giản và tự nhiên. Bốn là, phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai.