Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển công ty cổ phần vận tải đường sắt Sài Gòn

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển công ty cổ phần vận tải đường sắt sài gòn, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Trường đại học

Đại học Giao thông Vận tải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chiến lược phát triển công ty cổ phần vận tải đường sắt Sài Gòn

Luận án tiến sĩ của Phạm Quang Tú tập trung vào việc xây dựng chiến lược phát triển cho Công ty Cổ phần Vận tải Đường sắt Sài Gòn (SARATRANS). Nghiên cứu này nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp trong bối cảnh ngành vận tải đường sắt đang đối mặt với nhiều thách thức. Chiến lược phát triển được xem là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình cổ phần hóa. Luận án cũng đề cập đến sự cần thiết của việc xây dựng chiến lược phù hợp với môi trường kinh doanh hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

1.1. Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển

Luận án hệ thống hóa các lý thuyết về chiến lược phát triển, bao gồm khái niệm, vai trò, và các đặc trưng cơ bản. Nghiên cứu chỉ ra rằng chiến lược phát triển không chỉ là công cụ định hướng mà còn là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong dài hạn. Đặc biệt, luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược phù hợp với đặc thù của ngành vận tải đường sắt, bao gồm các yếu tố như kết cấu hạ tầng, công nghệ, và nguồn nhân lực.

1.2. Khoảng trống nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài

Luận án chỉ ra rằng, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về chiến lược phát triển trong các ngành khác, nhưng các nghiên cứu về vận tải đường sắt còn hạn chế. Đặc biệt, sau khi cổ phần hóa, SARATRANS cần một chiến lược mới để thích ứng với môi trường kinh doanh thay đổi. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách đề xuất một chiến lược phát triển toàn diện cho doanh nghiệp.

II. Phân tích thực trạng và môi trường kinh doanh của SARATRANS

Luận án tiến hành phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của SARATRANS trong giai đoạn 2016-2019. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể sau cổ phần hóa, doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh khốc liệt từ các phương thức vận tải khác, sự lạc hậu về công nghệ, và sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược phát triển cần được xây dựng dựa trên việc phân tích môi trường kinh doanh, bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài.

2.1. Phân tích môi trường vĩ mô

Nghiên cứu sử dụng mô hình PEST để phân tích các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến SARATRANS, bao gồm chính trị, kinh tế, xã hội, và công nghệ. Kết quả cho thấy, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và chính sách hỗ trợ từ Chính phủ là cơ hội lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự biến động của giá nhiên liệu và sự cạnh tranh từ các phương thức vận tải khác là những thách thức không nhỏ.

2.2. Phân tích môi trường vi mô

Luận án sử dụng mô hình SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của SARATRANS. Kết quả cho thấy, doanh nghiệp có lợi thế về thương hiệu và mạng lưới vận tải rộng khắp. Tuy nhiên, sự lạc hậu về công nghệ và thiếu hụt nguồn nhân lực là những điểm yếu cần được khắc phục.

III. Đề xuất chiến lược phát triển cho SARATRANS

Dựa trên kết quả phân tích, luận án đề xuất một chiến lược phát triển toàn diện cho SARATRANS giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lược này tập trung vào việc tái cấu trúc doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, và phát triển bền vững. Các giải pháp cụ thể bao gồm đầu tư vào công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực, và mở rộng thị trường.

3.1. Xác định sứ mệnh và tầm nhìn

Luận án đề xuất sứ mệnh của SARATRANS là trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực vận tải đường sắt tại Việt Nam, cung cấp dịch vụ chất lượng cao và thân thiện với môi trường. Tầm nhìn đến năm 2030 là phát triển thành một tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực, với sự hiện diện mạnh mẽ trên thị trường quốc tế.

3.2. Các giải pháp thực hiện chiến lược

Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để thực hiện chiến lược phát triển, bao gồm đầu tư vào công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực, và mở rộng thị trường. Đặc biệt, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ 4.0 trong quản lý và vận hành, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu chi phí.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển công ty cổ phần vận tải đường sắt sài gòn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về chiến lược phát triển ở ngoài nước Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp để phân tích và hoạch định chiến lược. Với các quan điểm và phương pháp tiếp cận khác nhau đã mang đến nhiều kết quả khác nhau về công tác xây dựng chiến lược. Các nghiên cứu về khái niệm chiến lược Thứ nhất, Clausewitz C.

(1832) [72], trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Vom Kriege - Trong cuộc chiến” đã định nghĩa chiến lược như là một cách thức để đánh trận và kết thúc cuộc chiến. Cuối thế kỷ 19, với sự phát triển khá phức tạp của xã hội, quan niệm về chiến lược được mở rộng và bắt đầu được sử dụng trong quản lý và chính sách quốc gia. Đến thế kỷ 20, các thuật ngữ “Chiến lược chính” (grand strategy) và “Chiến lược được ưu tiên” (higher strategy) được đề cập đến như là nghệ thuật sử dụng các nguồn tài nguyên cho sự phát triển và để đạt được các mục tiêu cụ thể của quốc gia. Thứ hai, các năm 1962, 1980, Chandler [70], [71]định nghĩa chiến lược như là “Việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”.

[92] đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ. Ngoài cách tiếp cận kiểu kinh điển và truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới, Bruce D. Henderson [78], chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức; những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. Thứ ba, Michael Porter (1980) [89], trong tác phẩm tiên phong xuất bản năm 1980 “Chiến lược cạnh tranh” của bộ ba cuốn sách: Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh quốc gia, đã chỉ ra khái niệm về chiến lược nói chung, lưu ý các vấn đề dễ nhầm lẫn giữa chiến lược và kế hoạch, phương pháp định 7 nghĩa lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo và phân chia lợi nhuận.

Đặc biệt ông đã giới thiệu ba chiến lược cạnh tranh phổ quát là: Chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, chính điều đó đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc. Porter [90], [35], [36], [37] “Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt” và đến năm 1996, ông [91] đã có những quan niệm mới của mình về chiến lược qua bài báo: “Chiến lược là gì?” ông cho rằng chiến lược là: Sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo, các hoạt động khác biệt; sự lựa chọn trong cạnh tranh và tạo ra sự phù họp giữa tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Thứ tư, theo Johnson và Scholes [79], trong “Chiến lược cạnh tranh của một tổ chức” thì trong một tổ chức hay một doanh nghiệp: “Chiến lược là việc định hướng và xác định phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Thứ năm, Kenichi Ohmae (2013) [87] trong “Tư duy của chiến lược gia” Nxb Lao động Xã hội, đã xác định mục tiêu của chiến lược là đem lại những điều thuận lợi cho bản thân, tức là chọn đúng nơi để đánh, chọn đúng thời điểm để tiến công hay rút lui, đánh giá và tái đánh giá khi tình huống thay đổi.

Từ đó, tác giả đưa ra kết luận rằng, phân tích quá trình tư duy biến một vấn đề phức tạp thành nhiều phần nhỏ hơn để hiểu hơn về nó, là bước khởi đầu cốt lõi của tư duy chiến lược, thói quen phân tích sẽ giúp tư duy trở lên linh hoạt và có thể đưa ra phản ứng thực tế trước những tình huống liên tục thay đổi. Các nghiên cứu về vai trò của chiến lược Joel Ross & Michael Kami (2014) [95], trong bài viết “Thiếu vắng một chiến lược, một tổ chức giống như một con thuyền không có bánh lái” thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển quản trị, đã đề cập đến vai trò của chiến lược phát triển đối với một tổ chức và đặc biệt là đối với một doanh nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp hiện nay đang cạnh tranh trong một môi trường toàn cầu hóa đầy biến động đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển phù hợp để khai thác một cách có hiệu quả những cơ hội và xử lý thỏa đáng với những thách thức đang đặt ra để bảo đảm đạt tới hiệu quả cao và sự phát triển bền vững. Doanh nghiệp cần phải trả lời được các câu hỏi: 8 những cơ hội nào nên được theo đuổi? những lĩnh vực mới nào nên được đầu tư, phát triển? làm gì để có thể tận dụng và khai thác có hiệu quả những nguồn lực hiện có của công ty? làm gì để công ty có thể phát triển được những năng lực cạnh tranh bền vững trong các lĩnh vực hoạt động của mình và tạo ra sự cộng hưởng trong sự phát triển của toàn bộ tổ chức?.

Các nghiên cứu liên quan đến quản trị chiến lược Thứ nhất, Fred R David (2011) [74] cho rằng: Quản trị chiến lược là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định đan chéo nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra. Ông đã chỉ ra quá trình Quản trị chiến lược bao gồm ba giai đoạn: Xây dựng chiến lược; thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược; chỉ ra các vấn đề cơ bản trong xây dựng chiến lược bao gồm: Phát triển một tầm nhìn và nhiệm vụ; xác định các cơ hội và các mối đe dọa bên ngoài; xác định điểm mạnh và điểm yếu nội bộ; thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra chiến lược thay thế và lựa chọn chiến lược cụ thể để theo đuổi. Bên cạnh đó, Ông cũng chỉ ra kinh nghiệm cho các chiến lược gia trong việc xây dựng chiến lược. Thứ hai, Peter Drucker (2013) [13], trong “Quản trị trong thời kỳ khủng hoảng”, đã nêu lên vai trò của quản trị thời khủng hoảng là tập trung hoàn toàn vào các hành động, chiến lược và cơ hội, những điều các nhà quản trị có thể làm, nên làm và phải làm trong những thời kỳ biến động, khủng hoảng.

và Richard Kunhn [21], chỉ ra hoạch định chiến lược phải theo quá trình. Thứ ba, Tổ chức giáo dục TOPICA [58] trong bài giảng “Tổng quan về quản trị chiến lược của doanh nghiệp” cho rằng: Quy trình quản trị chiến lược tổng quát của doanh nghiệp bao gồm 3 giai đoạn: thiết lập (hoạch định) chiến lược, triển khai (thực thi) chiến lược và đánh giá chiến lược. Giai đoạn hoạch định chiến lược, được hiểu là một quá trình thiết lập tầm nhìn, sứ mạng; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp; xây dựng các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các phương án chiến lược để thực hiện các mục tiêu này. Giai đoạn thực thi chiến lược: Chính là giai đoạn chuyển hóa các nội dung chiến lược thành hành động chiến lược.

Triển khai chiến lược bao gồm những công việc nhằm làm cho chiến lược được thực hiện và đạt được các mục tiêu của tổ chức. 9 Giai đoạn đánh giá chiến lược, bao gồm ba hoạt động chính: Xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại; đo lường thành tích và thực hiện các hoạt động điều chỉnh.Gluck và cộng sự (1980) [76] đã đưa ra các so sánh và mô tả tiến trình phát triển của việc lập chiến lược đối với một tổ chức, doanh nghiệp. Các tác giả gọi giai đoạn phát triển đầu tiên là lập kế hoạch tài chính sơ đẳng. Ở giai đoạn này, mối quan tâm đầu tiên là giải quyết các hạn hẹp về tài chính thông qua việc kiểm tra tác nghiệp chặt chẽ, lập phân bổ ngân sách hàng năm, tập trung chú ý đến các chức năng hoạt động, tài chính v.

Mục đích của việc lập chiến lược là huy động toàn bộ nguồn lực để xây dựng ưu thế cạnh tranh. Lập kế hoạch chiến lược trả lời bốn câu hỏi cơ bản: (i) Doanh nghiệp/tổ chức đang ở đâu? (ii) Doanh nghiệp/tổ chức muốn đi đến đâu trong tương lai? (iii) Làm thế nào để đến đó? (iv) Làm thế nào để đo đạc được sự tiến triển? Thứ năm, Carter McNamara, MBA, Authenticity Consulting, LLC (2008) [84], trong “Cách viết kế hoạch chiến lược” đã đề cập đến nội dung xây dựng kế hoạch hành động hay chương trình hành động của một chiến lược. Theo tác giả, kế hoạch hành động là việc thận trọng đề ra cách những mục tiêu chiến lược sẽ được thực hiện. Kế hoạch hành động thường bao gồm các mục tiêu cụ thể, hay những kết quả cụ thể cho từng mục tiêu chiến lược.

Vì vậy, để đạt được mục tiêu chiến lược thường phải thực hiện một chuỗi các mục tiêu cụ thể. Các nghiên cứu liên quan đến xây dựng, sử dụng công cụ và quản lý, điều hành chiến lược Thứ nhất, Các tác giả James Cadle, Debra Paul and Paul Turner (2010) [68] và McNamara C. MBA (2008) [84], đã sử dụng các công cụ để nghiên cứu 4 bước như sau: 1. Phân tích chiến lược (bao gồm cả môi trường bên ngoài và khả năng nội bộ); 2.

Xác định chiến lược; 3. Triển khai thực hiện chiến lược; 4. Đo lường hiệu suất. Trong bước phân tích chiến lược nhóm tác giả sử dụng mô hình phân tích PESTLE (gồm các yếu tố: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, công nghệ, môi trường, pháp luật) và mô hình Porter (năm lực lượng cạnh tranh gồm: Khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung ứng, các sản phẩm thay thế, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn).

Tiếp theo nhóm tác giả đã nhấn mạnh việc kết hợp giữa ma trận SWOT và ma trận Ansoff để xác định chiến lược cho doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Chiến lược phát triển công ty cổ phần vận tải đường sắt Sài Gòn" là một nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố nội bộ như quản trị nguồn nhân lực, tối ưu hóa hoạt động kinh doanh mà còn đề cập đến các yếu tố bên ngoài như thị trường, công nghệ và chính sách. Đọc giả sẽ nhận được những hiểu biết sâu sắc về cách thức xây dựng và triển khai chiến lược hiệu quả, từ đó áp dụng vào thực tiễn doanh nghiệp của mình.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến quản trị nguồn nhân lực, hãy khám phá Luận văn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Investcorp Land Thanh Hóa. Để hiểu rõ hơn về chiến lược marketing trong doanh nghiệp, Luận văn thạc sĩ hoàn thiện marketing mix tại chi nhánh Viettel Bình Định là một tài liệu đáng tham khảo. Ngoài ra, nếu bạn muốn tìm hiểu về phát triển công nghệ và năng lực nội sinh, Luận văn quản lý khoa học phát triển công nghệ nhập khẩu năng lực nội sinh doanh nghiệp sẽ mang lại những góc nhìn mới mẻ và hữu ích.