CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE NHTM VA NĂNG LỰC CẠNH TRANH CUA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về NHTM Hoạt động ngân hàng đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và mầm mống của hoạt động ngân hang gan liền với các bàn đổi tiền - “Bancus”, đây chính là cơ sở dé hình thành nên thuật ngữ “Bank” từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên. Và tô chức tương đối hoàn chỉnh gần với quan niệm hiện đại được hình thành sớm nhất tại Tây Ban Nha (năm 1401) - đó là Ngân hàng Bacelona, ngân hàng này có thể được xem là NHTM đầu tiên trên thế giới.
Qua quá trình hình thành và phát triển, có một số khái niệm về NHTM của các nước trên thế giới như sau: Theo Đạo luật của nước Cộng hòa Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mai là những doanh nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức kỷ thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dung và tai chính). Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mai là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Tại Việt Nam: pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam có qui định: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiên tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiễn đó dé cho vay, chiết khẩu và làm phương tiện thanh toán.” Luật các tô chức tín dụng sỐ 47/2010/QH12 đã đưa ra khái niệm: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tin dụng có thể được thục hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gom ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hang hợp tác xã.” Trong đó, tô chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tô chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tải chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thực hiện giao dịch trực tiếp với các cá nhân, tổ chức kinh tế, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi dé cho vay, thực hiện chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng khác.2 Chức nang của NHTM (i). Chức năng tập trung va phân phối lại vốn tiền tệ của nền kinh tế Trong nên kinh tế có những chủ thê có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt dé nhưng ho cũng muốn tiền này sinh lời cho mình bang cach cho vay và có những chủ thé cần tiền dé hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thé này có thê không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông.
Ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay. Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế dé sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc day nền kinh tế phát trién. NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì họat động của mình.
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cô phiếu, trái phiéu,. NHTM có thé làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyên giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trai phiếu công ty. Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng này, ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chỉ trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toản trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyền, bảo quản.
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyên ngân, thẻ thanh toán.) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đây nhanh tốc độ luân chuyên vốn, thúc đầy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay. Chức năng tạo tiền Mở rộng tiền gửi là khả năng vốn có của hệ thống NHTM gắn liền với hoạt động tín dụng và thanh toán.
Từ một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay, thanh toán, số tiền gửi đã được tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu. Sự kết hợp giữa chức năng tập trung vốn cho nền kinh tế và chức năng trung gian thanh toán làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền gửi thanh toán. Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách gửi vào Ngân hàng để mua hàng hóa, thanh toán dich vu. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM 1.1 Nghiệp vụ huy động vốn: Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tô chức và cá nhân dưới các hình thức nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá.và tiền vay của NHNN, các tô chức tín dụng khác.
Đây là một trong những hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bat kỳ NHTM nao. Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn NHTM có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đôi với ngân hàng.
Nghiệp vụ cho vay và dau tư: NHTM được cấp tín dụng cho tô chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khâu công cụ chuyên nhượng và giây tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hang, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế và cuối cùng là các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn- Bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nghiệp vụ ngân quỹ và cung cấp dịch vụ thanh toán: Đây là hoạt động quan trọng mang tính đặc thù của NHTM. Nhờ hoạt động này mà các giao dịch thanh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiện một cách thông suốt và thuận lợi.
Đồng thời, hoạt động này còn góp phan làm giảm đáng kể lượng tiền mặt lưu hành trong nền kinh tế. Nghiệp vụ ngân quỹ và cung cấp dịch vụ thanh toán của NHTM bao gồm việc thực hiện các dịch vụ ngân quỹ như kiểm đếm, phân loại, bảo quản, vận chuyên tiền mặt,. và cung cấp dich vụ mở tài khoản giao dich cho khách hàng là các thê nhân, pháp nhân trong và ngoài nước, cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng, thực hiện dịch vụ thu chi hộ, các dịch vụ thanh toán khác.4 Các đặc diém của hoạt động NHTM Hoạt động của NHTM hiện nay có các đặc điểm chủ yếu như sau: Một là, hoạt động kinh doanh mang tính hệ thống cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước do đó lệ thuộc rất lớn vào các quy định luật pháp trong lĩnh vực ngân hàng. Mặt khác đây là lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi sự hợp tác và cạnh tranh rất cao.
Hai là, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, là một trong những ngành quan trọng nhất của mỗi quốc gia hiện nay. Ba là, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NHTM phải đóng vai trò tổ chức trung gian huy động vốn trong xã hội. Nguồn vốn dé kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự có của ngân hàng. Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyên nghiệp, năng lực tài chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát, phòng ngừa và quản trị rủi ro hữu hiệu dé đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả.
Bon là, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có liên quan đến tiền tệ và có quy mô hoạt động rộng khắp trên toàn thé giới, đây còn là một lĩnh vực nhạy cảm do đó khi kinh doanh trong lĩnh vực này yêu cầu phải có: nguồn nhân lực chất lượng cao; dịch vụ cung cấp nhanh, hiệu quả, an toàn, giá cả phù hợp, công nghệ thông tin, quản tri rủi ro. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM 1.1 Lý luận chung về cạnh tranh trong nền kinh tế Khái niệm về cạnh tranh: Cạnh tranh là một tất yếu trong nên kinh tế thị trường, theo K.Max: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dé thu lợi nhuận cao nhất.