Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Khi thực hiện luận văn, chọn đối tượng nghiên cứu là hoạt động thông tin và truyền thông bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Mạ khu vực VQG Cát Tiên - trường hợp xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai trên góc độ của Quản lý Văn hóa, có một số thuật ngữ cần được xác định rõ trong hướng tiếp cận. Vì vậy, chúng tôi xác định những từ khóa: Thông tin, truyền thông, văn hóa, hoạt động văn hóa, môi trường tự nhiên và bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng trong quan điểm tiếp cận với những lý thuyết của các nhà nghiên cứu đã công bố mà chúng tôi tham khảo qua tài liệu hay được giảng dạy. Đặc biệt, khi sử dụng những khái niệm trong luận văn cần biện giải, khi Việt Nam có những luật tương ứng, đề cập, tôi sử dụng từ ngữ, cách giải thích theo luật định.
Các khái niệm thao tác - Khái niệm về thông tin Theo Ala - từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt, thuật ngữ Imfomarmation với ngữ nghĩa tiếng Việt có thể hiểu là thông tin, tin tức, dữ kiện là “Tất cả những ý tưởng, những sự kiện, và những công việc của trí óc tưởng tượng ra, đã được truyền đạt, ghi nhận, ấn loát và phát hành một cách chính thức hay không chính thức nào” [1:105-106]. Trên quan điểm của triết học, thông tin được hiểu theo cách lý giải của Đoàn Phan Tân “là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất), bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.v… hay nói rộng ra hơn bằng tất cả các phương tiên tác động lên giác quan con người”[28:14]. Thông tin có những thuộc tính và hiện nay trong thời đại công nghệ phát triển, thông tin trở thành nguồn lực trong xã hội khi con người 15 biết khai thác phù hợp. “Cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền và xử lý thông tin, một ngành khoa học lý thuyết hình thành, phát triển và trở thành đối tượng của nhiều nghiên cứu sâu sắc là Lý thuyết thông tin” [28:43].
Thông tin học là ngành học quan trọng của các đối tượng nghiên cứu về xã hội. Trên cơ sở thông tin, nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt về truyền thông đã thực hiện nhiều chương trình truyền thông hiêu quả khi gắn kết trong sự tương hỗ giữa các ngành học khác. Khi thực hiện luận văn, các ghi nhận từ cá nhân, cơ quan chức trách ở địa bàn nghiên cứu cung cấp, những dữ liệu thu thập qua báo cáo được xem là đơn vị thông tin để thu thập và xử lý. Từ kết quả phân tích thông tin liên quan, tác giả để xuất những giải pháp truyền thông hiệu quả trên dữ liệu thông tin được phân tích để hướng đến: thông tin hữu ích, sử dụng hiệu quả, truyền thông phù hợp với cách thức quản lý và đối tượng tiếp nhận.
- Khái niệm về truyền thông Tác giả áp dụng quan điểm “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [11:4]. Lĩnh hội quan điểm này, luận văn sẽ tiếp cận góc độ truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông.Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau.Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết,… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông. Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm 16 thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng cho công chúng.
- Khái niệm văn hóa, quản lý văn hóa Từ nhiều góc độ, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hóa trên cơ sở: bản chất, thuộc tính, đặc điểm, chức năng, giá trị, lĩnh vực, quy luật. Mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về các hoạt động của con người. Theo Federico Mayor (Tổng Giám đốc UNESCO/Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dụccủa Liên hiệp quốc): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại, qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu, những yếu tố xác định đặc tính riêng củatừng dân tộc”[39]. Có thể khái quát Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [29:25] Văn hóa bao gồm hai lĩnh vực: vật thể và phi vật thể.
Luật Di sản văn hóa của Việt Nam (năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009) xác định Di sản văn hoá vật thể: “Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [25] và Di sản văn hóa phi vật thể: “Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác; bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, 17 về văn hoá ẩm thực, về trang phục tuyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”[25]. Có thể nêu lên những đặc điểm chủ yếu của văn hóa như sau: Văn hoá là một bộ phận gắn liền với cuộc sống và nhận thức của cá nhân và cộng đồng người; Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có, con người là chủ thể sáng tạo văn hóa; Hoạt động sáng tạo văn hóa bao trùm lên mọi lĩnh vực cuả đời sống con người trong cộng đồng: đời sống vật chất, đời sống xã hội và đời sống tinh thần; Thành tựu của những hoạt động sáng tạo đó là hệ thống các giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa bao giờ cũng được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác bằng con đường giáo dục; Văn hóa của mỗi cộng đồng người (tộc người) có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, hình thành nên những đặc trưng phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác. Nội dung nghiên cứu của luận văn liên quan đến tộc người Mạ, cư dân sinh sống lâu đời ở Đồng Nai, là một trong 54 thành phần làm nên bức tranh đa dạng về dân tộc của Việt Nam.
Cộng đồng người Mạ ở xã Tà Lài nói riêng, của Việt Nam nói chung trong quá trình sinh tồn trải qua nhiều thời kỳ đã tạo nên những nét văn hóa của cộng đồng trên nhiều lĩnh vực. Văn hóa của người Mạ có những nét độc đáo phản ánh bản sắc tộc người đồng thời có những điểm tương đồng, có sự tiếp biến, giao thoa với văn hóa các tộc người khác. Trong các thời kỳ lịch sử, các thể chế quản lý của Việt Nam đều đưa ra những chính sách quản lý về văn hóa. Từ sau năm 1945, Việt Nam đã có những chính sách quản lý về văn hóa nhằm đáp ứng xây dựng con người theo đường lối xây dựng Xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1975, khi đất nước thống nhất, Việt Nam tiến hành quản lý văn hóa nhằm xây dựng con người mới, xã hội mới.Từ khi thực hiện đường lối đổi mới (từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI/1986), lĩnh vực văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, được 18 nhà nước Việt Nam tiếp tục quan tâm trong quá trình phát triển đất nước. Tháng 7 năm 1998, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) nêu ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn để xây dựng và phát triển nền văn hoá trong thời kỳ mới. Về quản lý văn hóa, luận văn tiếp cận quan điểm của tác giả Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn “Quản lý văn hóa được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nên tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Vận dụng quan điểm này, tác giả muốn lý giải việc thông tin, truyền thông đến đồng bào dân tộc thiểu số cần phải tiếp cận từ góc độ văn hóa của tộc người.
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu đặc trưng văn hóa tộc người để từ đó có cơ sở đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả mà cụ thể là trong lĩnh vực thông tin, truyền thông về bảo vệ môi trường trong bối cảnh hiện nay. - Khái niệm về bảo vệ môi trường Nội dung luận văn có liên quan đến bảo vệ môi trường nên tham khảo Luật Bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 23/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường [24]theo Nghị quyết số 55/2014/QH 13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Trong Luật này nêu rõ về khái niệm từ ngữ liên quan đến bảo vệ môi trường.