CHƯƠNG I CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Quản trị chiến lược trong doanh nghiệp. Khái niệm về quản trị chiến lược: Có nhiều định nghĩa về “quản trị chiến lược” khác nhau được giới thiệu bởi các học giả trên thế giới: - Quản trị chiến lược là quá trình quản lý việc theo đuổi chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ của tổ chức đó đối với môi trường của nó. - Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản lý quyết định sự thành công lâu dài của Công ty.
- Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong luận văn này tác giả sử dụng quan niệm của Garry D.Smith khái niệm về quản trị chiến lược như sau: Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của các tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai. Học viên: Chu Việt Phương 1 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. Mô hình về quản trị chiến lược: Phân tích môi trường Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu Mối liên hệ ngược Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược Thực hiện chiến lược Đánh giá và kiểm tra thực hiện Hình 1.1: Mô hình quản trị chiến lược (Nguồn: Gary D.Smith và các cộng sự, NXB Thống kê) Học viên: Chu Việt Phương 2 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Theo Garry D.Smith thì nội dung của mô hình quản trị chiến lược được giải thích như sau: 1.
Phân tích môi trường: Vai trò của việc phân tích môi trường là: Tạo cơ sở căn bản cho việc hoạch định chức năng nhiệm vụ (hoặc khẳng định lại các chức năng nhiệm vụ đã được hoạch định từ trước) và hoạch định mục tiêu; Giúp ta xác định được việc gì cần làm để đạt được mục tiêu và chức năng nhiệm vụ đề ra. Việc quản lý chiến lược tốt phụ thuộc nhiều vào sự am hiểu tường tận các điều kiện môi trường mà tổ chức đang phải đương đầu. Các yếu tố môi trường có một ảnh hưởng sâu rộng vì chúng ảnh hưởng đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình quản lý chiến lược. Chiến lược cuối cùng phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường dự kiến.
Môi trường tổng quát mà doanh nghiệp gặp phải có thể chia thành 3 mức độ: môi trường vĩ mô, môi trường ngành kinh doanh và môi trường bên trong doanh nghiệp. Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không nhất thiết phải theo một cách xác định. Môi trường ngành kinh doanh được xác định đối với một ngành công nghiệp cụ thể, với tất cả các hãng trong ngành chịu ảnh hưởng của môi trường tác nghiệp trong ngành đó. Nhiều khi môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp kết hợp với nhau gọi là môi trường bên ngoài hoặc môi trường nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty.
Môi trường bên trong doanh nghiệp bao gồm các yếu tố nội tại trong một hãng nhất định. Trong thực tế hãng là tổng hợp các yếu tố hoàn cảnh nội bộ của nó. Đôi khi hoàn cảnh nội bộ được gọi là môi trường nội bộ hoặc môi trường kiểm soát được. Ba mức độ điều kiện môi trường này được định nghĩa và mối tương quan của chúng được minh họa như sau: Học viên: Chu Việt Phương 3 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Môi trường vĩ mô: 1.
Các yếu tố kinh tế. Các yếu tố chính phủ và chính trị. Các yếu tố xã hội. Các yếu tố tự nhiên.
Các yếu tố công nghệ. Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố nằm bên ngoài tổ chức, định hình và có Môi 6. trường tác nghiệp: ảnh hưởng đến các môi 1. Các đối thủ cạnh tranh.
trường tác nghiệp và môi 2. Khách hàng. trường nội bộ, và tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối 3. Người cung ứng nguyên vật với tổ chức.
Môi trường tác nghiệp 4. Các đối thủ tiềm ẩn. bao hàm các yếu bên 5. Hàng thay thế.
ngoài tổ chức, định hướng sự cạnh tranh trong Hoàn cảnh nội bộ: ngành. Nguồn nhân lực. Hoàn cảnh nội bộ bao hàm các nguồn lực nội bộ 2. Nghiên cứu và phát của tổ chức.
Tài chính, kế toán. Nền nếp tổ chức.2: Định nghĩa và mối quan hệ giữa các cấp độ môi trường.Smith và các cộng sự, NXB Thống kê) Môi trường càng phức tạp thì càng khó đưa ra các quyết định hữu hiệu. Tính biến động của môi trường , bao hàm tính năng động hoặc mức độ biến Học viên: Chu Việt Phương 4 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đổi trong điều kiện môi trường liên quan. Trong một môi trường ổn định, mức độ biến đổi có thể tương đối thấp và có thể dự đoán được.
Môi trường biến động đặc trưng bởi những thay đổi diễn ra nhanh chóng và khó mà dự báo trước. Tính phức tạp và và biến động của môi trường đặc biệt hệ trọng khi tiến hành phân tích các điều kiện môi trường vĩ mô và môi trường ngành vì cả hai yếu tố này đều là yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp. Mục đích tại sao phải xác định và hiểu rõ các điều kiện môi trường liên quan là để làm rõ các yếu tố môi trường nào có nhiều khả năng ảnh hưởng đến việc ra các quyết định của doanh nghiệp. Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu: - Định nghĩa chức năng nhiệm vụ: Chức năng nhiệm vụ là "mệnh đề cố định về mục đích của doanh nghiệp, phân biệt doanh nghiệp với các hãng tương tự khác".
Mệnh đề như vậy còn gọi là mệnh đề về các nguyên tắc kinh doanh, mục đích, triết lý và tín điều của hãng hoặc các quan điểm của công ty. Từ đó xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, thông thường đó là loại sản phẩm cơ bản hoặc loại hình dịch vụ chính, các nhóm đối tượng hàng đầu, nhu cầu thị trường, lĩnh vực công nghệm, hoặc tổ hợp các yếu tố này. - Nội dung chức năng nhiệm vụ: bao gồm các vấn đề bao quát hơn về những điều mong muốn có được bên ngoài doanh nghiệp, như ấn tượng của công chúng và phương cách xử thế của doanh nghiệp nói chung. Nội dung chức năng nhiệm vụ được nêu ra làm định hướng và biểu lộ quan điểm thái độ chứ không phải thể hiện các mục đích cụ thể.
- Khi đề ra chức năng nhiệm vụ phải tính đến ít nhất 5 yếu tố chính là (1) lịch sử của hãng, (2) sở thích hiện tại của ban lãnh đạo và các chủ sở hữu, (3) các kiến giải về môi trường, (4) nguồn lực hiện có và (5) các khả năng đặc biệt. Chức năng nhiệm vụ còn giúp lãnh đạo xác định các mục tiêu một cách Học viên: Chu Việt Phương 5 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội cụ thể hơn. Cụ thể, phương hướng chỉ đạo này là cần thiết ở các giai đoạn đầu trong quá trình lập kế hoạch. Nó còn hỗ trợ cho việc xem xét thay đổi tác nghiệp và chiến lược - Thuật ngữ "mục tiêu" được dùng để chỉ các tiêu đích hoặc kết quả cụ thể mà doanh nghiệp phấn đấu đạt được.
Tuy mục tiêu được suy ra trực tiếp từ chức năng nhiệm vụ, chúng cần phải cụ thể rõ ràng hơn. - Khái niệm mục tiêu tương đối rộng và có thể phân tích thành 3 phần: chức năng nhiệm vụ, mục đích dài hạn và mục đích ngắn hạn. Bộ phận đầu tiên và lớn nhất của mục tiêu là chức năng nhiệm vụ, nó thể hiện lý do cơ bản để doanh nghiệp tồn tại. Mục đích dài hạn và mục đích ngắn hạn là cái đích hay kết quả cụ thể hơn mà doanh nghiệp mong muốn đạt được.
Mục đích được rút ra từ chức năng nhiệm vụ và phải nhằm vào việc thực hiện chức năng nhiệm vụ đó. Sau khi đề ra chức năng nhiệm vụ và mục đích của doanh nghiệp mọi người tham gia thực hiện phải biết được chính xác điều doanh nghiệp muốn đạt được là gì. Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược: Sau khi phân tích các phương án chiến lược, cần lựa chọn sự kết hợp thích hợp các chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp cơ sở kinh doanh và chiến lược cấp bộ phận chức năng. Một bộ phận không tách rời của việc lựa chọn chiến lược bao gồm một phương pháp được sử dụng một cách phổ biến là lý thuyết và danh mục vốn đầu tư.
Việc phân tích này nhằm đánh giá từng ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này làm nảy sinh nhiều chiến lược, từ việc tìm kiếm cơ hội mới cho đến việc từ bỏ ngành nghề đang kinh doanh. Có nhiều chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp cơ sở kinh doanh, chiến lược cấp bộ phận chức năng có thể áp dụng nhằm đạt được mục tiêu mong Học viên: Chu Việt Phương 6 Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn Thạc sỹ QTKD 2010B Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội muốn. Nội dung bao quát nhất về phương cách làm thế nào để công ty đạt được mục tiêu mong muốn là nội dung chiến lược.
Chiến lược cần được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc hướng tổ chức đi đến mục tiêu mong muốn. Kế hoạch tác nghiệp tổng quát này tạo cơ sở cho các chính sách (định hướng cho việc thông qua quyết định) và các thủ pháp. Các phương pháp và kỹ thuật hoạt động tác nghiệp là các nội dung cụ thể chỉ ra cho doanh nghiệp thấy cần phải làm gì trong các tình huống xác định. Thực hiện chiến lược: Việc thực hiện các chiến lược đã được lựa chọn là việc hết sức quan trọng trong quản lý chiến lược, thường bị các chuyên gia thực hành cũng như các nhà nghiên cứu chiến lược bỏ qua hoặc không chú ý đúng mức.
Nhưng việc thực hiện chiến lược chí ít cũng quan trọng như việc hoạch định ra nó và thực tế còn khó tiến hành hơn.