Chương 1 nghiên cứu bốn thị trường TPDN trên thế giới bao gồm thị trường TPDN Mỹ, thị trường TPDN Nhật Bản, thị trường TPDN Trung Quốc và thị trường TPDN Hàn Quốc. Sau khi tìm hiểu, phân tích kinh nghiệm phát triển của từng thị trường, tác giả rút ra một số bài học cho thị trường TPDN Việt Nam.1 TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Võ Thanh Long và Nguyễn Quang Hải (2007, trang 80) cho rằng “Trái phiếu là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ (TPCP). Trái phiếu có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm”.
Trái phiếu là một hợp đồng tài chính, có hiệu lực từ người hoặc cơ quan đã phát hành trái phiếu. Không giống như cổ phiếu hoặc vốn cổ phần, trái phiếu không có đặc quyền sở hữu. Một nhà đầu tư khi mua một trái phiếu là đã cho một tổ chức vay sẽ không có tiếng nói trong các vấn đề của tổ chức đó và không bỏ phiếu tại cuộc họp thường niên. Trái phiếu vẫn là nghĩa vụ chịu lãi của nhà phát hành cho đến khi được hoàn trả, thường là ngày đáo hạn của trái phiếu.
Người phát hành có thể là bất kỳ ai từ một cá nhân tư nhân đến một chính phủ có chủ quyền (Moorad Choudhry, 2001).2 Đặc điểm Trần Vinh Quang (2017) cho rằng trái phiếu có những đặc điểm chủ yếu sau: 8 “Mệnh giá: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu, là giá trị được ghi trên trái phiếu. Giá trị này được gọi là vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay (lợi tức trái phiếu) mà chủ thể phát hành trái phiếu phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền mà chủ thể phát hành trái phiếu phải hoàn trả cho người sở hữu trái phiếu khi trái phiếu đáo hạn”.
“Lãi suất danh nghĩa: lãi suất được ghi trên trái phiếu hoặc do chủ thể phát hành trái phiếu công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá của trái phiếu và cũng là một trong những căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu”. “Thời hạn của trái phiếu: (Kỳ hạn của trái phiếu) là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày chủ thể phát hành trái phiếu hoàn trả tiền vốn lần cuối cho người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu ngắn hạn thông thường có thời hạn 1 năm trở xuống, trái phiếu trung hạn có kỳ hạn từ trên một năm đến dưới 5 năm, trái phiếu dài hạn có kỳ hạn từ 5 năm trở lên.
Kỳ hạn trái phiếu có ý nghĩa rất quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của nó. Ngoài ra, kỳ hạn trái phiếu càng dài, tính biến động giá trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. Do vậy, biến động của giá trái phiếu phụ thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu. Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu”.
“Kỳ trả lãi: là khoảng thời gian chủ thể phát hành trái phiếu phải trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu. Lãi suất trái phiếu thường được xác định theo năm, tuy nhiên kỳ trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu có nhiều loại: trả lãi trước (trả lãi vào thời điểm phát hành trái phiếu), trả lãi khi trái phiếu đáo hạn (chủ thể phát hành trái phiếu phải thanh toán cả tiền gốc và lãi vào thời điểm đáo hạn), trả lãi theo những kỳ hạn nhất định (có thể là 6 tháng - theo thông lệ quốc tế, 1 năm…)”. “Giá phát hành: là giá bán của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Tùy theo tình hình của thị trường vào thời điểm phát hành và khả năng tài chính của chủ thể phát hành trái phiếu để xác định giá phát hành một cách hợp lý nhằm đảm bảo đợt phát hành đạt kết quả.
Có thể phân biệt ba trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá; giá phát hành dưới mệnh giá; và giá phát hành trên mệnh giá”. 9 “Giá trái phiếu: Đây là số tiền thực tế mà nhà đầu tư bỏ ra để được quyền sở hữu trái phiếu. Trái phiếu có thể được mua bằng mệnh giá, cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá (còn gọi là giá chiết khấu). Dù vậy, tiền lãi trả cho các trái chủ luôn được xác định trên mệnh giá trái phiếu; đồng thời, trái chủ sẽ được hoàn trả vốn gốc ban đầu bằng với mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn”.3 Phân loại trái phiếu Theo Viện Khoa học Ngân hàng (1997) và Đặng Tấn Tài (2009): Trái phiếu trên thị trường tài chính có rất nhiều loại, tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà trái phiếu sẽ được phân thành các loại tương ứng.
Nếu căn cứ vào tiêu chí đối tượng phát hành và mục đích phát hành, trái phiếu được phân thành hai loại là TPCP và TPDN: Căn cứ vào tính chất ghi danh của trái phiếu: Trái phiếu vô danh: Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên người chủ sở hữu trên bề mặt trái phiếu cũng như trên sổ sách của tổ chức phát hành. Đây là loại trái phiếu được đính kèm theo phiếu lĩnh lãi coupon. Người sở hữu trái phiếu sẽ cắt phần cuống phiếu trả lãi tương ứng và đem đến tổ chức phát hành hoặc ngân hàng được tổ chức phát hành ủy quyền để nhận lãi. Đến thời điểm đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu trình giấy chứng nhận sở hữu trái phiếu để nhận lại vốn gốc tương đương với mệnh giá.
Trái phiếu vô danh có thể được chuyển nhượng một cách dễ dàng, bất kỳ người nào nắm giữ trái phiếu trong tay đều có quyền hưởng lãi và quyền được thanh toán trái phiếu. Người nắm giữ trái phiếu có thể nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn hoặc có thể bán chúng trên thị trường thứ cấp trước ngày đáo hạn. Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi rõ họ tên và địa chỉ của người chủ sở hữu trái phiếu trên bề mặt trái phiếu và trong sổ sách của tổ chức phát hành. Vì tên người sở hữu được ghi trên trái phiếu nên việc chuyển nhượng chỉ có thể thực hiện bằng cách ký hậu và đăng ký với tổ chức phát hành.
Đến ngày thanh toán lãi, đại lý công ty phát 10 hành sẽ gửi séc hoặc tiền mặt hoặc chuyển khoản để trả tiền lãi cho chủ sở hữu trái phiếu. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của trái phiếu: Trái phiếu có bảo đảm: Đây là loại trái phiếu mà nếu nhà phát hành muốn phát hành chúng thì phải có tài sản thế chấp đảm bảo. Trong trường hợp nhà phát hành bị phá sản (vỡ nợ), những người nắm giữ trái phiếu này sẽ được bảo vệ ở mức độ cao bằng chính những tài sản đã thế chấp. Tài sản thế chấp có thể là bất động sản, máy móc thiết bị, nhà xưởng, các loại chứng khoán.
mà tổ chức phát hành đang nắm giữ. Trái phiếu không có bảo đảm: Là loại trái phiếu mà khi phát hành chỉ dựa vào uy tín của tổ chức phát hành và không đưa ra một tài sản gì để đảm bảo. Loại trái phiếu này thường được phát hành bởi những tổ chức lớn và có danh tiếng trên thị trường. Thương hiệu sẽ là một đảm bảo có giá trị cho doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu.
Trong trường hợp tổ chức phát hành không đủ khả năng trả nợ và lâm vào tình trạng phá sản, những người nắm giữ loại trái phiếu này sẽ được thanh toán sau các trái chủ của trái phiếu có bảo đảm. Căn cứ vào những quyền kèm theo của trái phiếu: Trái phiếu có thể mua lại trước hạn: Đây là loại trái phiếu có kèm điều khoản cho phép tổ chức phát hành được mua lại trái phiếu trước thời điểm đáo hạn với mức giá cao hơn mệnh giá của trái phiếu trong trường hợp tổ chức phát hành không còn nhu cầu vay vốn nữa hoặc trong trường hợp lãi suất thị trường giảm thấp hơn lãi suất của trái phiếu lúc phát hành. Điều đó sẽ giảm thiểu thiệt hại cho tổ chức phát hành vì không phải trả lãi quá cao. Về phía người mua trái phiếu thì đây là một bất lợi, do đó giá bán của loại trái phiếu này thường rẻ hơn những trái phiếu không có cùng đặc tính.
Trái phiếu có thể bán lại trước hạn: Loại trái phiếu này cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho tổ chức phát hành trước thời điểm đáo hạn. Điều đó có tác dụng loại bỏ được rủi ro về lãi suất cho chủ sở hữu trái phiếu. Nhà đầu tư trái phiếu có thể 11 tránh được một khoản thua lỗ khi lãi suất thị trường gia tăng làm cho giá trái phiếu giảm xuống. Với đặc tính này, trái phiếu kèm quyền bán lại thường có giá bán cao hơn những trái phiếu không có đặc tính tương tự.
Trái phiếu có thể chuyển đổi: Đây là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ nó có quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu sau một khoảng thời gian được xác định trước. Tùy theo lựa chọn của mình và tình hình thị trường mà nhà đầu tư quyết định có chuyển đổi trái phiếu hay không. Thông thường, những người nắm giữ trái phiếu thực hiện việc chuyển đổi khi doanh nghiệp đạt kết quả kinh doanh tốt và cổ phiếu tăng giá hoặc có tiềm năng tăng giá mạnh trên thị trường. Khi đó nhà đầu tư sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ chênh lệch giá.
Việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu còn phụ thuộc vào giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi. Trái phiếu kèm chứng quyền: Là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ nó được quyền mua kèm một lượng cổ phiếu nhất định tương ứng với lượng trái phiếu mà họ nắm giữ với một mức giá nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Giống như trái phiếu chuyển đổi, quyền mua kèm này được xác định ngay khi trái phiếu được phát hành. Căn cứ vào cách xác định lãi suất trái phiếu: Trái phiếu có lãi suất ổn định: Là loại trái phiếu truyền thống được phát hành phổ biến ở tất cả các thị trường trên thế giới.
Nó ràng buộc tổ chức phát hành phải trả lãi cố định trong suốt thời gian trái phiếu lưu hành với định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm một lần. Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Trái phiếu có lãi suất thả nổi được hiểu là loại trái phiếu mà lãi suất sẽ được điều chỉnh theo sự biến động của lãi suất thị trường.