CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ, ĐỊNH GIÁ VÀ CHIẾN LƯỢC ĐỊNH GIÁ PHÂN KHÚC NHÀ CHUNG CƯ 1. Tổng quan về giá, định giá và chiến lược định giá 1. Tổng quan về giá 1. Giá trị hàng hóa và giá trị thị trường của hàng hóa Giá trị của hàng hoá là giá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện trung bình của xã hội, tức là trình độ kỹ thuật trung bình, cường độ lao động trung bình so với hòa cảnh xã hội nhất định. - Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới định lượng giá trị của hàng hoá, đó là: + Năng suất lao động: năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược lại năng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng xuất lao động xã hội.
+ Cường độ lao động: khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương ứng còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi. + Mức độ phức tạp của lao động: trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. - Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. - Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định.
Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó và chỉ được thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng sản phẩm hàng hóa. 7 - Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại hàng hoá này được trao đổi với một giá trị sử dụng khác, trên một cơ sở chung, cái chung đó là lao động (thời gian lao động và công sức lao động) được chứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá. Giá trị thị trường: - Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị trao đổi của hàng hoá, theo nghĩa rộng đó là số tiền phải trả để sở hữu một hàng hoá, tài sản, dịch vụ nào đó. - Giá cả của hàng hoá nói chung là đại lượng thay đổi xoay quanh giá trị.
- Khi cung và cầu của một hay một loại hàng hóa về cơ bản ăn khớp với nhau thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá đó. - Giá cả sẽ cao hơn giá trị của hàng hoá nếu số lượng cung thấp hơn cầu. - Giá cả sẽ thấp hơn giá trị của hàng hoá nếu số lượng cung cao hơn cầu. Giá cả của một mặt hàng phụ thuộc vào: - Giá trị của bản thân hàng hoá đó: số thời gian và công sức lao động làm ra nó.
- Giá trị của đồng tiền (lãi suất). - Quan hệ cung - cầu về hàng hoá. Giá trị thị trường: “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán khách quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường. Giá trong giải pháp marketting hỗn hợp Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, do đặc thù ngành nghề, sản phẩm mà giá cả của hàng hóa có các tên gọi khác nhau.
Ví dụ: tiền lương, tiền công là giá cả hàng hóa sức lao động, lãi suất là giá sử dụng tiền, giá cước là giá các dịch vụ vận chuyển, thông tin, học phí là giá của các khóa học, lệ phí là giá các dịch vụ. còn giá cả là giá của hầu hết các loại hàng hóa dịch vụ trong một thời điểm nhất định. Trong một giải pháp marketting hỗn hợp, giá thể hiện dưới các góc độ: 8 Giá trong hoạt động trao đổi: Khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, người sản xuất sẽ sản xuất ra một lượng sản phẩm nhất định và những sản phẩm này được đưa ra thị trường tiêu thụ - tức là diễn ra hoạt động trao đổi thì sản phẩm đó mới là hàng hóa và thông qua hoạt động trao đổi mức giá của hàng hóa mới hình thành. Vì vậy, không thể thiếu vắng giá ở bất kỳ một hoạt động trao đổi nào.
Trao đổi qua giá là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem trao đổi. Khi thực hiện trao đổi qua giá, trước hết phải đánh giá được giá trị của các thứ đem trao đổi. Nếu tiêu chuẩn của giá trị là lợi ích kinh tế thì sự chấp nhận một mức giá phụ thuộc rất lớn vào sự xét đoán lợi ích các thành phần tham gia trao đổi đánh giá mức giá đó. Một mức giá không được chấp nhận trong trao đổi thường xuất phát từ vấn đề cốt lõi là lợi ích của một bên hoặc cả hai bên tham gia trao đổi không được thõa mãn.
Cho dù giá hay giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau nhưng chúng đều chứa đựng một ý nghĩa kinh tế chung: lợi ích được xác định bằng tiền. Giá trong hoạt động bán: Trong hoạt động bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, giá được định nghĩa: giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận được về việc tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Trong hoạt động trao đổi, người bán đóng vai trò cung ứng hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu, ước muốn của người mua và muốn bán được giá cao nhất, cao hơn giá trị hàng hóa. Bời vì, càng bán được giá cao thì sau khi bù đắp được chi phí sản xuất, phần còn lại chính là lợi nhuận ròng của người bán.
Tuy nhiên, trên thị trường trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, mức giá phù hợp là mức giao dịch thành công. Giá trong hoạt động mua: Trong hoạt động mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, giá được định nghĩa: giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Trong hoạt động trao đổi, người mua là bên có tiếng nói cuối cùng về một 9 mức giá được thực hiện. Người mua tham gia trao đổi nhằm tìm kiếm những lợi ích mà hàng hóa và dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của họ.
Số tiền mà người mua phải trả là giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người mua sẽ được sở hữu, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó. Vì vậy, giá thường là chỉ số quan trọng được sử dụng trong quá trình lựa chọn và quyết định mua hoặc không mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Giá vừa là công cụ kích cầu sản phẩm, vừa kìm hãm nhu cầu của con người về sản phẩm. Khi các điều kiện khác như nhau (chất lượng sản phẩm, mẫu mã, xuất xứ.) người mua luôn tìm đến những người bán có mức giá đưa ra thấp nhất.
Chức năng của giá Giá khi xem xét là giá trị thị trường có những chức năng chủ yếu sau: Chức năng thông tin: Những thông tin về giá cả thị trường cho người sản xuất biết được tình hình sản xuất trong các ngành, nghề; biết được tương quan cung - cầu; biết được sự khan hiếm với các loại hàng hóa. Nhờ đó mà những doanh nghiệp có liên quan ra được những quyết định thích hợp: điều chỉnh lượng sản xuất và quy mô sản xuất, từ đó điều chỉnh cơ cấu sản xuất sản phẩm phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu kinh doanh. Chức năng phân bố các nguồn lực kinh tế: Sự biến động của giá cả sẽ dẫn đến sự biến động của cung – cầu sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến sự biến đổi trong phân bố các nguồn lực. Những nhà sản xuất sẽ dịch chuyển đầu tư từ nơi giá thấp, lợi nhuận thấp đến nới giá cao hơn, lợi nhuận cao hơn, tức là các nguồn lực không hiệu quả, ứ đọng sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được sử dụng hiệu quả hơn.
Chức năng thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật: Để có thể cạnh tranh được về giá, buộc những người sản xuất phải giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Chức năng là phương tiện tính toán chi phí: Giá cả là phương tiện tính toán chi phí, tính toán lợi nhuận của người bán hàng hóa, của người sản xuất và của nhà đầu tư trên thị trường. Trong nền kinh tế, một bộ phận hàng hóa được sản xuất và đi vào tiêu thụ trực tiếp như: gạo, thịt. để ăn, song một bộ phận quan trọng của hàng hóa này lại trở thành nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra hàng hóa khác như đường là một phần nguyên liệu làm bánh, kẹo.
10 Chức năng phân phối lại thu nhập: Một hàng hóa cao cấp, xa xỉ thường được áp mức thuế, phí cao dẫn đến giá bán cao nhằm hướng đến nhóm dân cư thu nhập cao trên mức trung bình của xã hội (ví dụ: học phí tại trường quốc tế). Mặt khác, hàng hóa thứ cấp hoặc hàng hóa thiết yếu thường được áp mức thuế, phí thấp để không ảnh hưởng lớn đến đại bộ phận người tiêu dùng có thu nhập trung bình hoặc thấp hơn (ví dụ: học phí trường công lập). Tổng quan về định giá 1. Bản chất, mục đích của định giá Có một số khái niệm về định giá như sau: “Định giá là việc đánh giá giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định; còn thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo thông lệ Quốc tế.