CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN VÀ CHIA SẺ RỦI RO TRONG HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN VỀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG Chương này trình bày một số lý thuyết nền, khái niệm và đặc điểm có liên quan đến dự án đầu tư đầu tư công, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, các quan điểm về chia sẻ rủi ro trong dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân.1 Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư công: 1.1 Khái niệm dự án đầu tư công: Theo Glenn P.Jenkins và Arnold C.Harberger “Dự án đầu tư công là những dự án do Chính phủ tài trợ (cấp vốn) toàn bộ hay một phần hoặc do dân chúng tự nguyện đóng góp vốn bằng tiền hay bằng ngày công nhằm đáp ứng nhu cầu mang tính cộng đồng. Theo Nghị định 52/NĐ-CP ngày 8/7/1999 dự án đầu tư công là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hoá nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các khoản chi đầu tư phát triển tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, nâng cao tri thức con người tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Các khoản chi này có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng dự án đầu tư công là dự án đầu tư do chính phủ tài trợ toàn bộ hay một phần để hình thành cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, với mục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Dự án đầu tư công được thực hiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nên các dự án này được đặt ra trong chương trình đầu tư công hoặc trong chính sách, quy hoạch của ngành và vùng lãnh thổ.1) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chính sách, chiến lược phát triển quốc gia và vùng lãnh thổ Chương trình, quy hoạch quốc gia về hạ tầng, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng… Dù ¸n ®Çu t c«ng Dự án Dự án Dự án Dự án Dự án đầu tư đầu tư đầu tư đầu tư đầu tư công công công công công Hình 1.1: Mô hình mối quan hệ giữa chính sách và chương trình dự án công 1.2 Đặc điểm dự án đầu tư công Dự án đầu tư công được thẩm định dựa trên nhiều khía cạnh: phân tích tài chính, phân tích kinh tế, phân tích phân phối, tác động môi trường.Điều này có nghĩa là dự án khi quyết định đầu tư cần xem xét dự án có bền vững về mặt tài chính hay không và chú trọng đến việc dự án mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế hay xã hội. Điển giống nhau của đầu tư công và đầu tư tư là: nhu cầu vốn lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài, chịu tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, thị trường…., điểm khác nhau giữa đầu tư công và đầu tư tư ( Xem bảng 1.1: So sánh đặc điển khác nhau giữa đầu tư công và đầu tư tư Nội dung Đầu tư công Đầu tư tư Chủ yếu nguồn vốn từ khu Vốn đầu tư 100 % vốn ngân sách vực tư nhân, vốn vay Tư nhân chịu rủi ro, tư nhân Rủi ro trong hoạt động đầu Khi xảy ra rủi ro nhà nước quản lý tốt với mục tiêu hạn tư gánh chịu hoàn toàn chế thấp nhất rủi Lợi ích xã hội => Lợi ích Khu vực tư nhân phải có lợi Lợi ích kinh tế kinh tế ích kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Phân loại dự án đầu tư công 1.1 Phân loại theo nội dung dự án đầu tư Phân loại theo nội dung dự án chia làm hai nhóm: dự án đầu tư về hạ tầng kinh tế và dự án đầu tư về hạ tầng xã hội. Dự án đầu tư về hạ tầng kinh tế: cơ sở hạ tầng tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố.; công chánh (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu.; giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt, cảng cho tàu và máy bay, đường thuỷ.
Dự án đầu tư về hạ tầng xã hội (social infrastructure): bao gồm các cơ sở, thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội và các công trình phục vụ cho hoạt động văn hoá, xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, chăm sóc các đối tượng thuộc diện chính sách, cai nghiện, thông tin truyền thông và điều trị các bệnh xã hội… 1.2 Phân loại theo phí người sử dụng dự án đầu tư Thông qua hoạt động đầu tư, nhà đầu tư bỏ ra một khoản chi phí nhất định để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng, nhằm mục đích bù đắp chi phí đầu tư bỏ ra và thu được lợi nhuận (về lợi nhuận kinh tế hay ích lợi xã hội) trong tương lai, hoạt động cung cấp dịch vụ có thể thu phí hoặc không phí người sử dụng tùy theo mục đích của nhà đầu tư.2) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Phân loại dự án đầu tư theo phí người sử dụng Loại dự án Phạm vi áp dụng Mức phí nhằm đảm bảo cân Đầu tư Trung tâm thương mại, trung tâm đối kinh tế và tài chính: không thể thao, chỗ đậu xe, đường quốc lộ, cầu chỉ bù đắp chi phí mà còn tạo cảng, sân bay, mạng thông tin viễn ra lợi nhuận cho chủ dự án. Đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí Có thu phí Để bù đắp chi phí đầu tư công cộng, hầm giao thông, tỉnh lộ, khu an nhưng không tạo ra lợi nhuận điều dưỡng. Thu phí để bù đắp chi phí quản Đầu tư đường giao thông nông thôn, cầu, lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng cống thoát nước, khu điều dưỡng người không bù đắp phần chi đầu tư. già, diện chính sách… Dự án tạo dựng những cơ sở, Dự án vệ sinh môi trường, tạo cảnh quan, Không thu phương tiện để khu vực công trường học, công trình văn hóa, kiến trúc phí cung cấp dịch vụ công tốt hơn lịch sử, trung tâm điều hành giao thông, cho người dân xúc tiến thương mại….
Nguồn: Giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công, TS. Nguyễn Hồng Thắng và TS. Nguyễn Thị Huyền,2009 1.2 Cơ sở lý thuyết của hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân 1.1 Bối cảnh cải cách khu vực công và lý thuyết quản lý công mới – NPM [3,65] Giữa thập niên 70, sức ép gia tăng từ hai phía (suy thoái kinh tế - thất nghiệp cao, lạm phát và sự chỉ trích kéo dài về chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công) đã thúc đẩy sự thay đổi trong quản trị của chính quyền. Mô hình “Quản lý công mới – New Public Management - NPM” ra đời ở Anh.
Đảng Bảo thủ đứng đầu là Thủ tướng Mageret Thatcher - lãnh đạo chính phủ Anh vào 1979 đã bắt đầu hàng loạt cải cách. Sau đó, New Zealand, Mỹ, Úc đã tham gia và mang lại làn sóng cải cách lan tỏa trên thế giới vào thập niên 80. NPM được tạo ra bởi những lý thuyết được chia làm hai nhóm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Một là, “kinh tế thể chế mới”, được xây dựng dựa trên lý thuyết lựa chọn công (Public Choice Theory) của Kenneth Arrow (1950), James Buchanan phát triển thêm(1962); lý thuyết người chủ - người đại diện (Principal-Agent Theory) của Ross (1973), Wood và Waterman (1994) và lý thuyết chi phí giao dịch (Transation Cost Economics) của Ronald Coase (1960), Klein (1978), Oliver (1985) mà xem chính trị như là một hiện tượng của thị trường. Sự định hướng đến thị trường là nguyên tắc đầu tiên của NPM, với sự giới thiệu những cơ chế thị trường bao gồm công nghệ và những giá trị trong khu vực công, sẽ dẫn đến dịch vụ công của chính phủ có chất lượng cao và hiệu quả, cũng làm chi phí lớn hơn (Zhang, 2004).
NPM cung cấp một số phương pháp và công cụ quản lý đến khu vực công, như là tư nhân hóa và hợp đồng để nhận thức rõ sự không thích hợp của những tổ chức chính quyền mang tính quan liêu truyền thống, đồng thời xác định lại quan hệ giữa người mua dịch vụ (công dân) và nhà cung cấp (tổ chức công). Vì thế, có sự cạnh tranh nhiều hơn ở cả hai: giữa các tổ chức công với nhau và giữa các tổ chức công và khu vực tư nhân khi đưa ra sự cung ứng dịch vụ. Từ đó, chất lượng dịch vụ được cải tiến thông qua việc sử dụng những nhà cung cấp có tính cạnh tranh và những điều khoản cam kết trong hợp đồng (Yamamoto, 2003). Sự hoạt động thiếu hiệu quả của các tổ chức công (các đơn vị công) cung ứng dịch vụ là do những can thiệp chưa đúng của chính phủ, cũng như cơ cấu và bộ máy nhà nước có tính quan liêu cao, lý do đó đã thúc đẩy sự cải cách.
Trong thập niên 90, làn sóng cải cách về quản lý chi tiêu công ở các nước OECD được tiếp tục theo hướng đẩy mạnh trách nhiệm giải trình và quản lý hiệu quả (xu hướng quản lý và soạn lập ngân sách theo kết quả). Các kỹ năng quản lý ở khu vực tư cũng được quan tâm: nhận diện và quản lý rủi ro trong các dự án đầu tư; ứng dụng kỹ thuật công nghệ và sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cạnh tranh; lợi ích mang lại từ hoạt động có tính hiệu suất và hiệu quả khi từng bước có sự tham gia khu vực tư trong cung ứng dịch vụ công thông qua các dạng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng hợp tác công tư trong đầu tư (PPP). Do đó theo lý thuyết NPM và xu hướng quản lý ngân sách theo kết quả này, quan hệ hợp tác công-tư là cần thiết để cho phép các ngành thuộc khu vực công có thể thích ứng với thị trường và trở nên cạnh tranh hơn.