Luận Văn Thạc Sĩ: Chế Tạo Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Luận văn thạc sĩ trình bày quy trình chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hỗ trợ người khuyết tật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

83
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

CẢM TẠ

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu

1.2. Tình hình người khuyết tật tại Việt Nam

1.3. Vấn đề di chuyển của người khuyết tật

1.4. Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố

1.4.1. Các kết quả nghiên cứu Quốc tế

1.4.2. Các kết quả nghiên cứu trong nước

1.5. Mục đích của đề tài. Nhiệm vụ của đề tài và giới hạn đề tài

1.5.1. Giới hạn đề tài

1.5.2. Nội dung nghiên cứu

1.6. Tìm hiểu về tín hiệu điện não EEG

1.6.1. Nguồn gốc tín hiệu EEG

1.6.2. Phân loại tín hiệu EEG theo tần số

1.6.3. Hệ thống hướng dẫn EEG

1.6.4. Xác định sóng dựa vào hình dạng

1.6.5. Các ứng dụng của sóng điện não

1.7. Thiết bị mindwave_NeuroSky

1.8. Môi trường lập trình, điều khiển

1.8.1. Giới thiệu về LabVIEW

1.8.2. Môi trường lập trình MatLab

1.8.3. Board mạch Arduino uno r3

1.9. Lý thuyết động học quay vòng xe lăn

1.10. Tiêu chuẩn xe lăn điện

1.10.1. Chọn xe lăn tay cơ sở

1.10.2. Chọn phương án bố trí và phân bố tải trọng

1.10.3. Kiểm tra ổn định, động học quay vòng xe

1.10.3.1. Kiểm tra ổn định tĩnh
1.10.3.2. Kiểm tra động học quay vòng xe

1.11. Tính toán chọn motor và thiết kế sơ đồ hệ thống mạch điện

1.11.1. Tính toán chọn motor

1.11.2. Mô phỏng mô hình hệ thống

2. THIẾT KẾ MẠCH ĐIỆN VÀ GIA CÔNG CƠ KHÍ MÔ HÌNH

2.1. Thiết kế hệ thống mạch điện cho mô hình

2.2. Mạch công suất điều khiển động cơ

2.3. Gia công cơ khí và bố trí trên xe

2.3.1. Xe lăn ban đầu

2.3.2. Bố trí động cơ và bánh xe chủ động trên xe lăn điện

3. THU THẬP SÓNG NÃO VÀ LẬP TRÌNH ĐIỀU KHIỂN XE LĂN

3.1. Thu thập sóng não trên máy tính

3.2. Khối thu tín hiệu

3.3. Khối kiểm tra mức tín hiệu

3.4. Khối kết thúc chương trình

3.5. Khởi tạo mảng dữ liệu thô

3.6. Xử lý tín hiệu đưa về

3.7. Phân loại các hành vi nháy mắt

3.8. Cách thức điều khiển

3.8.1. Trường hợp xe đi tới

3.8.2. Trường hợp xe rẽ trái

3.8.3. Trường hợp xe rẽ phải

3.8.4. Trường hợp dừng xe

3.9. Thiết lập truyền dữ liệu từ trên máy tính xuống board Arduino

3.10. Lập trình trên board Arduino điều khiển 2 motor bánh xe

3.11. Kết quả và đánh giá

4. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chế Tạo Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não là một trong những bước tiến quan trọng trong công nghệ hỗ trợ người khuyết tật. Xe lăn điện không chỉ giúp người khuyết tật di chuyển dễ dàng hơn mà còn mang lại sự độc lập cho họ. Công nghệ này sử dụng sóng não để điều khiển, giúp người dùng có thể điều khiển xe lăn mà không cần sử dụng tay hay chân. Điều này đặc biệt hữu ích cho những người mất khả năng vận động.

1.1. Tình Hình Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 6,1 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số. Trong số đó, nhiều người gặp khó khăn trong việc di chuyển. Việc chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não sẽ giúp cải thiện tình hình này, mang lại cơ hội di chuyển cho người khuyết tật.

1.2. Lợi Ích Của Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Xe lăn điện điều khiển bằng sóng não không chỉ giúp người khuyết tật di chuyển mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. Công nghệ này giúp họ có thể tự do di chuyển mà không cần sự trợ giúp từ người khác, từ đó tạo ra sự tự tin và độc lập.

II. Vấn Đề Di Chuyển Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Vấn đề di chuyển của người khuyết tật tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Hệ thống giao thông chưa được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật. Nhiều người khuyết tật gặp khó khăn trong việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng, điều này ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập cộng đồng của họ.

2.1. Thách Thức Trong Việc Di Chuyển

Hạ tầng giao thông hiện tại chưa có lối đi riêng cho người khuyết tật, khiến việc di chuyển trở nên khó khăn. Nhiều người khuyết tật phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác để di chuyển.

2.2. Nhu Cầu Cần Thiết Về Phương Tiện Di Chuyển

Nhu cầu di chuyển của người khuyết tật là rất cấp thiết. Việc chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não sẽ giúp họ có thêm lựa chọn trong việc di chuyển, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống.

III. Phương Pháp Chế Tạo Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Phương pháp chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não bao gồm việc cải tiến từ mẫu xe lăn tay thông thường, gắn thêm động cơ điện và cơ cấu điều khiển. Sử dụng bộ đo sóng não Mindwave_NeuroSky để thu thập tín hiệu sóng não và điều khiển xe lăn.

3.1. Cải Tiến Mẫu Xe Lăn Tay Thông Thường

Mẫu xe lăn tay thông thường được cải tiến bằng cách gắn thêm động cơ điện và cơ cấu điều khiển. Điều này giúp xe lăn hoạt động bằng điện, mang lại sự tiện lợi cho người sử dụng.

3.2. Sử Dụng Bộ Đo Sóng Não Mindwave_NeuroSky

Bộ đo sóng não Mindwave_NeuroSky được sử dụng để thu thập tín hiệu sóng não. Tín hiệu này sẽ được phân tích và chuyển đổi thành tín hiệu điều khiển cho xe lăn, giúp người dùng có thể điều khiển xe chỉ bằng suy nghĩ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Xe lăn điện điều khiển bằng sóng não có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Nó không chỉ giúp người khuyết tật di chuyển mà còn có thể được sử dụng trong các bệnh viện và cơ sở chăm sóc người cao tuổi.

4.1. Ứng Dụng Trong Bệnh Viện

Xe lăn điện điều khiển bằng sóng não có thể được sử dụng trong bệnh viện để giúp bệnh nhân di chuyển dễ dàng hơn. Điều này giúp giảm bớt gánh nặng cho nhân viên y tế và tạo sự thoải mái cho bệnh nhân.

4.2. Ứng Dụng Trong Cuộc Sống Hàng Ngày

Ngoài việc sử dụng trong bệnh viện, xe lăn điện điều khiển bằng sóng não còn có thể được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, giúp người khuyết tật có thể tham gia vào các hoạt động xã hội và hòa nhập cộng đồng.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não

Tương lai của xe lăn điện điều khiển bằng sóng não rất hứa hẹn. Công nghệ này không ngừng phát triển và có thể mang lại nhiều lợi ích cho người khuyết tật. Việc nghiên cứu và phát triển thêm các tính năng mới sẽ giúp cải thiện hơn nữa chất lượng cuộc sống của họ.

5.1. Tiềm Năng Phát Triển Công Nghệ

Công nghệ điều khiển bằng sóng não đang ngày càng được cải tiến, mở ra nhiều cơ hội mới cho việc phát triển xe lăn điện. Các nghiên cứu mới có thể giúp nâng cao tính năng và hiệu suất của xe lăn.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Cho Người Khuyết Tật

Việc phát triển xe lăn điện điều khiển bằng sóng não sẽ giúp người khuyết tật có thêm nhiều lựa chọn trong việc di chuyển, từ đó tạo ra một tương lai tươi sáng hơn cho họ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ chế tạo xe lăn điện điều khiển bằng sóng não

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Ttổng quan Chương 2. Cơ sở lý thuyết Chương 3. Thiết kế mạch điện và gia công cơ khí mô hình Chương 4.

Thu thập sóng não và lập trình điều khiển xe lăn Chương 5. Kết luận và hướng phát triển của đề tài 20 CHƯƠNG 2.1 Tìm hiểu về tín hiệu điện não EEG 2.1 Nguồn gốc tín hiệu EEG Vỏ não là nguồn gốc của các hoạt động điện của não thu được từ bề mặt của da đầu. Vỏ não được chia làm nhiều khu vực, mỗi khu vực đảm nhiệm các chức năng khác nhau của cơ thể. Sự sắp xếp của các tế bào ở các khu vực khác nhau trên vỏ não cũng khác nhau nhưng nhìn chung thì vỏ não được cấu tạo gồm 6 lớp tính từ ngoài vào trong.1 Cấu tạo vỏ não Các lớp này là không gian của cấu trúc các tế bào thần kinh đặc biệt với các trạng thái và chức năng khác nhau trong đáp ứng xung điện.

Hầu hết các tế bào vỏ não được sắp xếp thành các cột, trong các cột này, neuron được phân bố dọc theo trục chính của các cây dạng nhánh, song song với mỗi cây khác và trực giao với bề mặt vỏ não. Tế bào tháp (pyramidal neuron) là thành phần cấu tạo chủ yếu của vỏ não. Điện thế EEG ghi được từ các điện cực được đặt tiếp xúc với da đầu là sự tổng hợp các thay đổi về điện thế ngoài của tế bào tháp. 21 Số lượng dây thần kinh trong não ước lượng vào khoảng 10^11 loại khác nhau.

Các tế bào thần kinh vỏ não được liên kết mạnh nhất. Tại đây 1 tế bào thần kinh có thể được che phủ bởi 1000 đến 100000 khớp thần kinh. Đáp ứng điện của tế bào thần kinh tương ứng với những mô tả của các tế bào có thể bị kích thích. Các điện áp nghỉ trong khoảng xấp xỉ -70 mV, và điện áp đỉnh mang điện tích dương.

Biên độ của các xung thần kinh vào khoảng 100 mV và kéo dài 1ms, những đánh giá về đặc tính cơ bản của EEG rất phức tạp, chất lượng EEG chủ yếu dựa trên thống kê điều trị, tại đó việc điều trị liên quan đến EEG chủ yếu dựa trên số lượng lớn kinh nghiệm.2 Phân loại tín hiệu EEG theo tần số Năm 1924, nhà tâm thần học Hans Berger là người đầu tiên ghi được sóng điện não EEG. Ông nhận thấy trên bản ghi EEG bình thường, sóng điện não gồm có 4 loại được phân theo tần số như sau: Hình 2.2 Phân loại sóng điện não Sóng Alpha (α): nằm trong khoảng tần số 8-13 Hz, biên độ từ 30-50 μV. Sóng Alpha thể hiện rõ khi ngồi trong phòng tối, trong điều kiện không hoạt động thể lực và trí óc, nằm hay ngồi ở tư thế thoải mái, các cơ được thư giãn và không có các kích thích từ ngoài. Càng tập trung sự chú ý và căng thẳng trong lao động trí óc hoặc khi kích thích 22 lên các thụ cảm thể càng mạnh, sóng Alpha càng nhanh chóng được thay bằng sóng Beta.3 Hình dạng sóng α Sóng Beta (β): nằm trong khoảng 13-35 Hz, biên độ từ 5-20 μV.

Thường ghi nhận được ở vùng đỉnh và vùng trán của sọ khi hoạt động tinh thần nhiều hoặc căng thẳng, hay kích thích hệ thần kinh trung ương mạnh do giác quan (như sự mở mắt).4 Hình dạng sóng β Sóng Theta (θ): nằm trong khoảng 4-8 Hz, biên độ khoảng 50 μV. Sóng này thường được quan sát thấy ở người trưởng thành khi đang trong trạng thái buồn ngủ, trong các giai đoạn ngủ nông hoặc trong gây mê.5 Hình dạng sóng θ Sóng Delta (δ): nằm trong khoảng 0.5-4 Hz, có biên độ cao nhất trong các sóng điện não. Sóng này xuất hiện ở trẻ con, khi ngủ sâu ở người trưởng thành hoặc khi có 23 tổn thương thực thể nặng ở não. Sóng này xuất hiện ở trẻ con, khi ngủ sâu ở người trưởng thành hoặc khi có tổn thương thực thể nặng ở não.6 Hình dạng sóng δ 2.3 Hệ thống hướng dẫn EEG Theo tiêu chuẩn quốc tế 10-20 hệ thống thường được sử dụng để ghi lại tín hiệu sinh học EEG.

Trong hệ thống này, 21 điên cực được đặt trên bề mặt của da đầu, các vị trí được xác định như sau: điểm tham chiếu liên quan đến mũi, là điểm ở hốc mũi, ở giữa 2 mắt, mẩu ngoài xương chẩm, phần xương lồi lên nằm trên hộp sọ, trên đường thẳng chính giữa phía sau gáy. Từ những điểm này, chu vi hôp sọ được xác định thông qua mặt phẳng nằm ngang và phần nằm ở giữa. Vị trí của các điện cực được xác định bằng cách chia mặt phẳng này cho 10% hoặc 20%. Ba điện cực khác được bố trí cách đều các điện cực lân cận Hình 2.7 Vị trí gắn các điện cực trên đầu Thêm vào với 21 điên cực của hệ thống quốc tế 10-20, trung bình 10% vị trí các điện cực được sử dụng.

Vị trí và tên gọi của các điện cực được định chuẩn bởi tổ chức ghi điện não Hoa Kỳ (Sharbrough et al. Trong khuyến nghị 24 này, 4 điên cực được đặt tên khác so với hệ thống 10-20, chúng bao gồm T7, T8, P7 và P8. Những điện cực này được tô màu đen với chú thích màu trắng trong hình biểu diễn. Bên cạnh hệ thống quốc tế 10-20, tồn tại nhiều hệ thống điện cực khác cho phép đo điện thế trên da đầu.

Hệ thống Queen Square về vị trí của các điện cực được đề xuất trong các mẫu bản ghi về các điện thế gợi trong lâm sàng, trong các lưỡng cực hoặc đơn cực có thể được sử dụng trong việc đo EEG. Trong các phép đo sau, điện thế của mỗi điện cực được so sánh với điên cực trung lập hay trung bình các điện cực.8 Phân bố sóng.4 Xác định sóng dựa vào hình dạng Có một số sóng có hình dạng đặc trưng, bất kể là tần số của chúng là như thế nào, và do vậy có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng của chúng. Ngoài ra, có thể có 1 cặp hoặc 1 nhóm các sóng có hình dạng đặc trưng. Một ví dụ về những sóng có hình dạng đặc trưng là các gai (spikes) và các sóng nhọn (sharp waves) – các sóng này có đường dốc lên gấp tới đỉnh rồi dốc xuống tương đối đột ngột, như vậy nền (cạnh đáy) của sóng tương đối nhỏ so với biên độ (chiều cao) của sóng.

Có một số sóng có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng, bao gồm 2 loại chính là những sóng có hình dạng đặc biệt, những phức bộ sóng có hình dạng đặc biệt Những sóng có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng bao gồm: các gai (spikes) hoặc sóng chậm (slow waves). Các gai là những só có nền (cạnh đáy) hẹp trong khi có biên độ (amplitude - chiều cao) tương đối cao, tạo cho sóng có hình dạng cao và hẹp với 1 đỉnh nhọn. Sóng nhọn là sóng có đáy hơi rộng hơn một chút so với các gai, nhưng nghĩa thì cũng giống hệt – nó là chỉ điểm cho thấy có hoạt động điện gây cơn kịch phát (seizure activity) và nó gợi ý có phóng điện hay hoạt động điện đồng bộ đa ổ (multiple 25 synchronous firing or activity) của các đuôi gai của tế bào thần kinh (dendrites). Sóng nhọn được coi là biểu hiện của một ổ phóng điện ở cách vị trí ghi một khoảng nào đó, còn gai được coi là do ổ phóng điện nằm rất gần với vị trí ghi, các dạng sóng phức hợp (complex wave pattern), các dạng sóng có tính đặc hiệu do hình dạng của chúng bao gồm gai và sóng (spike and wave), dạng gai và sóng thấy có ở mọi lứa tuổi, nhưng thường nhất là ở trẻ em.

Nó bao gồm 1 gai (có thể là nguồn phát nằm ở vỏ não) và một sóng chậm (thường là delta) có biên độ cao, sóng chậm này được coi là có nguồn phát ở các cấu trúc của đồi thị, phức bộ này lặp đi lặp lại. Chúng có thể xuất hiện đồng bộ (đồng thì – synchronously) và cân đối hai bên trong các bệnh động kinh toàn thể hóa (generalized epilepsies) hoặc khu trú trong bệnh động kinh cục bộ. Trong những dạng gai và sóng toàn thể hóa, cơn vắng thực sự (true absense) hay là cơn nhỏ (petit mal) đặc trưng bằng gai-sóng 3 Hz, trong khi gai chậm – sóng (slow spike-wave) thường thấy hơn khi não bị tổn thương và trong hội chứng Lennox-Gastaut. Những gai và sóng nhanh hơn 3 Hz sẽ được trình bày trong phần dưới đây, phần về đa gai và sóng (polyspike- wave).9 Gai và sóng Đa gai và sóng (polyspike and wave): là một dạng của gai sóng, trong đó mỗi một sóng chậm đi kèm với 2 hoặc nhiều gai.

Dạng thường gặp là dạng gai và sóng có tần số nhanh hơn 3 Hz – thường là 3. Dạng này thường có đi kèm với giật cơ (myoclonus) hoặc các cơn kịch phát giật cơ (myoclonic seizures). Đừng nhầm lẫn nó với gai sóng 6 Hz, vốn được coi là gai sóng không thực (phantom spike and wave) – là một biến thể của bình thường.10 Đa gai và sóng  Nhiễu (Artifacts) Nhiễu là những sóng hoặc những nhóm các sóng do lỗi kỹ thuật hoặc do các lỗi khác gây ra, và không phải do hoạt động điện của não gây ra. Nhiễu là các rối loạn do khiếm khuyết kỹ thuật gây ra, thường đó là những lỗi có tính tạm thời.

Bao gồm do di động các điện cực làm cho mất tiếp xúc, các hoạt động điện của cơ che khuất điện não đồ, do cử động của đầu, chầy xước da đầu, ra mồ hôi, v.v… Nếu ta dùng độ phóng đại lớn, thì tất cả các biến loạn kể trên đều được phóng đại lên, bao gồm các nhiễu của mạch và điện tâm đồ, của điện cực và các cử động, nhiễu 60 Hz và nhiễu do mồ hôi, là loại nhiễu biểu hiện có dung dịch muối nằm giữa các điện cực làm cho nó bị đoản mạch. Nhiễu do điện tâm đồ và do mạch (EKG and pulse artifacts): Cả 2 loại nhiễu này đều có thể nhận biết được nhờ vào tính chất có chu kỳ của chúng. Nhiễu điện tâm đồ cho thấy rõ phức bộ QRS theo chu kỳ, vì điện tâm đồ thì có tín hiệu điện lớn hơn nhiều so với điện não đồ. Nhiễu do mạch là do mạch đập ở phía dưới của điện cực làm cho nó chuyển động theo chu kỳ.

Cả 2 loại nhiễu nàu đều dễ nhận diện, nhưng cũng có thể gây khó khăn cho đọc điện não. Nhiễu do chuyển động của điện cực và các chuyển động khác: nhiễu do chuyển động của bệnh nhân thì có đường biểu thị đột ngột, và trong hầu hết trường hợp nó dốc ngược đột ngột. So với các sóng EEG chuẩn thì các nhiễu đó có biên độ cao và kéo dài về thời gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chế Tạo Xe Lăn Điện Điều Khiển Bằng Sóng Não Cho Người Khuyết Tật" trình bày một giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm hỗ trợ người khuyết tật trong việc di chuyển. Bằng cách sử dụng sóng não để điều khiển xe lăn điện, người dùng có thể dễ dàng di chuyển mà không cần sự trợ giúp từ người khác. Điều này không chỉ mang lại sự độc lập cho người khuyết tật mà còn giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống.

Ngoài ra, tài liệu còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực công nghệ hỗ trợ, khuyến khích các nhà nghiên cứu và kỹ sư phát triển thêm các ứng dụng tương tự. Để tìm hiểu thêm về các công nghệ hỗ trợ khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ứng dụng cảm biến 3d kinect trong nhận diện ngôn ngữ cử chỉ tiếng việt hỗ trợ việc giao tiếp với người khuyết tật khiếm thính, nơi khám phá cách công nghệ cảm biến có thể cải thiện giao tiếp cho người khuyết tật.

Bên cạnh đó, Thiết kế và thi công hệ thống điều khiển xe lăn điện bằng cử chỉ tay sử dụng thông minh nhân tạo cũng là một tài liệu thú vị, cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng cử chỉ tay để điều khiển xe lăn, mở rộng khả năng tương tác cho người dùng.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Đồ án hcmute nghiên cứu phân tích chuyển động của mắt để xuất ra tín hiệu điều khiển xe lăn, một nghiên cứu khác về việc điều khiển xe lăn thông qua chuyển động mắt, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các công nghệ hỗ trợ hiện có. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực công nghệ hỗ trợ cho người khuyết tật.