Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong các ngành công nghiệp sản xuất ô tô, hàng không vũ trụ, thiết bị y tế, hóa chất, dầu khí và xây dựng hiện đại, nhu cầu sử dụng các chi tiết dạng ống kim loại uốn định hình có biên dạng không gian ba chiều phức tạp ngày càng gia tăng. Trong thực tế sản xuất tại Việt Nam, ống kim loại thương mại thường được cung cấp ở dạng đoạn thẳng tiêu chuẩn (dài 6 m hoặc 12 m). Để tạo ra các hệ thống đường ống phù hợp với không gian lắp đặt chật hẹp của khung gầm xe, động cơ hoặc nhà xưởng, giải pháp truyền thống phổ biến là cắt ngắn phôi ống rồi liên kết lại bằng phương pháp hàn. Tuy nhiên, các liên kết hàn thường bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng: làm thay đổi tổ chức kim loại vùng ảnh hưởng nhiệt, tạo ứng suất dư, giảm khả năng chịu áp lực và không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật khắt khe trong môi trường dẫn khí y tế, khí nén hay nhiên liệu áp lực cao.
Trước đòi hỏi đó, công nghệ uốn biến dạng dẻo phôi nguội liên tục (Free Bending Forming - FBF) không sử dụng khuôn tĩnh định hình đã được phát triển trên thế giới nhằm uốn cong ống theo các bán kính và góc độ biến thiên liên tục trong không gian mà không làm nứt gãy vật liệu. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu, làm chủ công nghệ và chế tạo thiết bị uốn ống nhiều bậc tự do theo nguyên lý cơ cấu song song vẫn còn là hướng đi mới mẻ, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa thiết kế cơ khí chính xác và công nghệ gia công cắt gọt.
Đề tài đồ án tốt nghiệp "Chế tạo mô hình đầu uốn ống nhiều bậc tự do" được thực hiện tại Khoa Đào tạo Chất lượng cao thuộc Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể sau:
- Nghiên cứu tổng quan về công nghệ tạo hình uốn ống tiên tiến và các cơ cấu uốn nhiều bậc tự do trên thế giới.
- Thiết kế mô hình không gian ba chiều (3D) cho cụm định hướng ống và cụm đầu uốn tạo hình nhiều bậc tự do.
- Lập quy trình công nghệ gia công cắt gọt cơ khí và chế tạo các chi tiết phi tiêu chuẩn của hệ thống máy tại xưởng thực hành.
- Lắp ráp, tích hợp hệ thống truyền động cơ khí, cảm biến đo dịch chuyển và thử nghiệm uốn thực tế trên phôi ống kim loại.
- Đảm bảo cụm kẹp và thoi đẩy ống tạo ra lực đẩy định mức 1000 kg, đẩy phôi ống có đường kính ngoài 10 mm, chiều dày thành ống 0,3 mm với chiều dài tối đa 2 m vào vùng uốn mà không làm biến dạng hay mất ổn định thanh (hiện tượng chịu console) trước khi tạo hình.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ cấu máy uốn ống biến dạng tự do nhiều bậc tự do, trọng tâm là cụm đầu uốn tạo hình dạng bệ di động song song và cụm định hướng phôi ống. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong lĩnh vực công nghệ chế tạo máy: thiết kế kết cấu, tính toán chế độ cắt, gia công chế tạo các chi tiết cơ khí trên máy công cụ vạn năng và thực nghiệm uốn trên vật liệu ống thép không gỉ Inox 304 tại Xưởng Bộ Môn Thực Hành Nghề của nhà trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của công nghệ uốn ống nhiều bậc tự do trong đồ án dựa trên các phương trình cơ học biến dạng đàn hồi - dẻo của kết cấu thanh mỏng, lý thuyết cơ cấu song song và kỹ thuật gia công cơ khí chính xác:
- Nguyên lý cơ cấu song song Stewart (1965): Tác giả kế thừa nguyên lý bệ dịch chuyển Stewart (Hexapod) gồm 6 bậc truyền động độc lập liên kết giữa bệ tĩnh và bệ động bằng các khớp cầu. Thông qua việc thay đổi độ cao hoặc chiều dài tịnh tiến của từng chân máy, bệ động (mang cụm con lăn tạo hình) có thể thay đổi góc nghiêng và tọa độ vị trí linh hoạt trong không gian 3D, từ đó điều khiển hướng kính và góc uốn của ống.
- Công nghệ uốn tự do (Free Bending Forming - FBF): So sánh giữa hệ thống uốn 3 trục, 5 trục và 6 trục. Ống kim loại được thoi đẩy tịnh tiến dọc theo trục Z vào giữa thanh dẫn hướng và khuôn uốn tiếp xúc động. Quá trình uốn diễn ra liên tục nhờ sự phối hợp chuyển động trong mặt phẳng XY và chuyển động quay quanh trục dẫn hướng.
- Các thông số hình học và cơ học của phép uốn ống:
- Bán kính đường tâm (Centerline Radius - CLR): Bán kính của đường tròn đi qua tâm hình học tại góc uốn, thường được chọn theo tỷ lệ đường kính ngoài ống $D$ (như 1D, 2D, 3D, 4D, 5D). Bán kính lớn giúp giảm độ giãn dài thớ ngoài nhưng chiếm nhiều không gian lắp đặt.
- Độ mỏng thành ống và ma sát: Xác định sự giảm chiều dày thành ngoài tại cung uốn do lực kéo dãn dọc trục và lực ma sát tiếp xúc giữa phôi với cơ cấu dẫn hướng.
- Chiều dài kẹp chặt: Xác định độ dài đoạn kẹp phôi cần thiết nhằm tránh trượt phôi hoặc hình thành nếp nhăn cục bộ trong các lần uốn liên tiếp.
- Phương pháp phân tích kỹ thuật: Áp dụng phương pháp phân tích lực tĩnh, độ cứng vững cơ cấu bằng ma trận đàn hồi; tiếp cận các phương pháp tính toán động học như phương pháp Euler, phương pháp Lagrange và phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method - FEM) để đánh giá trạng thái ứng suất, chuyển vị và phản lực uốn.
- Vật liệu học kim loại: Nghiên cứu các nhóm vật liệu ống uốn gồm thép cacbon, hợp kim nhôm, đồng và các dòng thép không gỉ (austenitic, ferritic, martensitic, duplex, precipitation-hardening). Đồ án lựa chọn ống thép không gỉ Inox 304 (chứa xấp xỉ 18% Crom và 8% Niken) làm phôi thực nghiệm nhờ cơ tính dẻo cao, độ giãn dài lớn khi uốn nguội, không bị nứt vỡ bề mặt và khả năng chống ăn mòn xuất sắc.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: mô hình hóa kết cấu 3D trên phần mềm thiết kế cơ khí (SolidWorks, Inventor); tính toán chế độ cắt (chiều sâu cắt $t$, lượng chạy dao $S$, tốc độ cắt $V$, tốc độ quay trục chính $n$) theo công thức sổ tay công nghệ chế tạo máy; gia công phay, tiện, khoan, taro trên máy công cụ thực tế; lắp ráp và đo kiểm dịch chuyển bằng thước quang số hóa.
Thiết kế và triển khai
Căn cứ vào việc phân tích máy uốn ống điều khiển số NC mã hiệu DW50NC (trọng lượng 1220 kg, công suất động cơ 5,5 kW, sử dụng hệ thống truyền động thủy lực Yuken của Nhật Bản với áp suất làm việc 12 MPa), nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá ưu nhược điểm của ba phương án kết cấu trước khi đưa vào chế tạo thực tế.
| Phương án thiết kế |
Nguyên lý hoạt động |
Ưu điểm chính |
Nhược điểm kỹ thuật |
| Phương án 1: Máy uốn ống thủy lực |
Xy lanh thủy lực đẩy cụm kẹp di chuyển phôi ống dọc thanh định vị vào đầu uốn |
Lực kẹp và lực đẩy rất lớn; kẹp được nhiều cỡ ống; độ chính xác cao |
Kích thước cồng kềnh, chi phí chế tạo và linh kiện thủy lực cao |
| Phương án 2: Uốn bằng đầu con lăn |
Động cơ dẫn động các bánh xe con lăn quay để dẫn và miết ống liên tục |
Phù hợp uốn hàng loạt chi tiết đối xứng; định vị phôi tốt |
Tốn diện tích xưởng khi phôi dài; khả năng uốn biên dạng phức tạp thấp |
| Phương án 3: Đầu uốn ống nhiều bậc tự do (Được chọn) |
Cơ cấu song song Stewart thay đổi chiều dài các chân máy để dịch chuyển tấm con lăn |
Tạo hình biên dạng 3D rất phức tạp; uốn tự do không cần thay khuôn; linh hoạt và tiết kiệm chi phí |
Thiết kế cơ khí và liên kết động học phức tạp; đòi hỏi chế tạo chính xác |
Hệ thống cơ khí hoàn chỉnh của mô hình được thiết kế và triển khai gồm các cụm bộ phận chức năng:
- Khung máy và bệ đỡ: Gia công từ thép định hình, có chức năng định vị không gian, cố định các cụm cơ cấu và triệt tiêu rung động, chống lật đổ trong quá trình chịu phản lực uốn.
- Cụm dẫn động và truyền động vít me: Động cơ điện truyền mô-men xoắn qua hộp giảm tốc trục vít - bánh vít. Trục ra của hộp giảm tốc nối với bánh răng chủ động nhỏ, ăn khớp với bánh răng lớn lắp bao ngoài trục vít me. Khi đai ốc quay tròn, trục vít me chuyển động tịnh tiến dọc trục để đẩy các chân máy.
- Cụm định hướng và ống chống console: Cố định phôi ống dọc hành trình đẩy, giữ phôi không bị uốn dọc hoặc chịu tải trọng công-xôn trước khi đi vào vùng biến dạng dẻo của đầu uốn.
- Cụm tạo hình đầu uốn nhiều bậc tự do: Gồm 6 chân máy tịnh tiến liên kết với tấm đế 4, các bạc dẫn hướng LMH20UU, khớp nối cứng kích thước 15x16 mm và tấm mang con lăn uốn.
Quy trình công nghệ gia công cơ khí các chi tiết phi tiêu chuẩn được thực hiện nghiêm ngặt tại xưởng máy:
- Bánh răng nhỏ: Chế tạo từ phôi thép tròn đặc đường kính $\varnothing 75\text{ mm}$, chiều dày $35\text{ mm}$ trên máy tiện Mascut. Nguyên công 1 thực hiện vạt mặt đầu phôi: tiện thô với chiều sâu cắt $t = 2\text{ mm}$, tốc độ quay trục chính $n = 310\text{ vòng/phút}$ (tốc độ cắt tính toán $297\text{ m/phút}$), lượng chạy dao $S = 0,3\text{ mm/vòng}$; tiện tinh mặt đầu lượng dư $1\text{ mm}$ chia 2 lát cắt ($t = 0,5\text{ mm}$), tốc độ $n = 610\text{ vòng/phút}$ ($542\text{ m/phút}$), $S = 0,15\text{ mm/vòng}$; sau đó vát mép chamfer và khoan lỗ chống tâm. Nguyên công 2 tiến hành chống tâm, tiện ngoài hạ kích thước đường kính từ $\varnothing 75\text{ mm}$ xuống $\varnothing 69,7\text{ mm}$ trên chiều dài $20\text{ mm}$ qua hai bước thô và tinh, sau đó đưa đi nhiệt luyện tôi cứng bề mặt răng.
- Gia công hệ thống trụ, trục và tấm đỡ: Gia công 4 trụ đỡ kích thước $\varnothing 40 \times 400\text{ mm}$ (khoan lỗ dọc tâm $\varnothing 14\text{ mm}$); gia công các trục dẫn hướng $\varnothing 18 \times 217\text{ mm}$, trục ren $\varnothing 18\text{ M}16 \times 1,5$; phay mặt phẳng và khoan lỗ bu-lông định vị trên tấm giữ motor (kích thước bao $90 \times 107\text{ mm}$), tấm đế 1, tấm giữ trên 2, tấm đế 4, tấm đỡ ống console và tấm con lăn uốn trên máy phay vạn năng 2500QM.
Quá trình lắp ráp và đo kiểm hệ thống:
- Lắp bánh răng lớn ăn khớp với bạc bao ngoài vít me, cố định bằng vòng phe chắn trục đường kính $\varnothing 55\text{ mm}$ và lắp cụm vòng bi vào tấm đế motor.
- Lắp bánh răng nhỏ vào trục ra của hộp số giảm tốc, căn chỉnh khoảng cách trục và độ rơ ăn khớp bánh răng.
- Lắp các trụ đỡ $\varnothing 40\text{ mm}$ và tấm giữ trên 2 vào thân đế motor, bắt chặt các thanh ray trượt dẫn hướng vào cụm vít me.
- Lắp ráp cụm thoi đẩy, tấm đỡ ống console vào tấm đế 1; cố định cụm đầu máy lên khung máy bằng liên kết bu-lông và con mã nhôm định hình.
- Lắp ráp các bạc dẫn hướng LMH20UU, khớp nối cứng $15 \times 16\text{ mm}$, kết nối các chân trục ren $\text{M}16 \times 1,5$ vào tấm đế 4 và tấm con lăn tạo hình.
- Tích hợp bộ thước quang Sino model KA300-70 vào cơ cấu chuyển động của đầu máy để đo đạc và hiển thị trực tiếp hành trình dịch chuyển tịnh tiến của các trục uốn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu chế tạo các đường ống dẫn cong nhiều hướng trong công nghiệp chế tạo thiết bị, điện tử, y tế và xây dựng mà không cần dùng phương pháp cắt hàn. Tác giả nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc phát triển công nghệ uốn tự do FBF và ý nghĩa thực tiễn giúp nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí đầu tư khuôn mẫu. Đồ án xác lập các mục tiêu kỹ thuật cụ thể: thiết kế cụm định hướng ống, loại bỏ ứng suất chịu console của phôi, định hướng sử dụng động cơ servo điều khiển uốn ba trục không gian, thiết kế thoi đẩy chịu lực 1000 kg để đẩy ống đường kính $\varnothing 10\text{ mm}$, dày $0,3\text{ mm}$, chiều dài tối đa $2\text{ m}$. Chương này cũng trình bày tổng quan về phương pháp luận và kết cấu 6 chương của báo cáo.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2 trình bày chi tiết về đặc tính và kết cấu cơ bản của mô hình đầu uốn nhiều bậc tự do. Tác giả khảo sát các công trình nghiên cứu ngoài nước tiêu biểu như: nghiên cứu thiết kế và phân tích máy uốn ống đa trục của Đại học Công nghệ Hoa Trung (Trung Quốc); hệ thống uốn ống đa trục điều khiển thời gian thực của Đại học Công nghệ Tokyo (Nhật Bản); và nghiên cứu ứng dụng uốn ống đa trục cho hàng không vũ trụ tại Viện Công nghệ California (Mỹ). Về nghiên cứu trong nước, đề tài phân tích kết quả chế tạo thiết bị uốn ống CNC của ThS. Bùi Quang Vinh (uốn ống $\varnothing 10\text{ mm}$ dày $0,8\text{ mm}$, tốc độ uốn $800\text{ mm/phút}$, bán kính uốn nhỏ nhất $100 \pm 1\text{ mm}$, chiều dài ống $3\text{ m}$) và nghiên cứu mô hình cơ cấu song song Hexapod theo nguyên lý Stewart của nhóm tác giả Đặng Văn Nghìn, Nguyễn Minh Tuấn, Từ Diệp Công Thành tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM. Bên cạnh việc phân tích ứng dụng rộng rãi trong hệ thống dẫn khí y tế, cổ góp xe ô tô, động cơ tên lửa RD-191, chương 2 chỉ ra 7 nhóm tồn tại lớn: chi phí đầu tư ban đầu cao, khó khăn thiết kế, phức tạp khi sản xuất hàng loạt, nguy cơ sai lệch độ bền và độ chính xác, khó khăn trong bảo trì thay thế linh kiện, thách thức tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu.
Chương 3: Cơ sở lý thuyết
Nội dung chương 3 tập trung giải quyết nền tảng cơ học đàn hồi của quá trình uốn ống. Tác giả trình bày phương pháp xác định bậc tự do của cơ cấu nhiều thành phần trong không gian; các yếu tố công nghệ cốt lõi gồm: bán kính đường tâm ống sau uốn ($1D, 2D, 3D, 4D$), sự mỏng độ dày thành ống ngoài vùng uốn cong dưới tác động của ma sát và biến dạng kéo, chiều dài đoạn kẹp phôi cần thiết nhằm chống trượt. Tiếp theo, chương này trình bày phương pháp phân tích lực tĩnh, tính toán ma trận độ cứng vững của cơ cấu nhiều chân, cùng các phương pháp động học (Euler, Lagrange, FEM) để xác định điểm uốn, lực uốn, lực kéo và phản lực đàn hồi. Phần cuối chương dành cho việc tổng quan các loại vật liệu uốn (thép, nhôm, gỗ, nhựa, composite, các dòng thép không gỉ austenitic, ferritic, martensitic, duplex) và luận giải việc chọn phôi ống Inox 304 đường kính $\varnothing 10\text{ mm}$ làm vật liệu thực nghiệm chính.
Chương 4: Phương hướng và các giải pháp về chế tạo mô hình đầu uốn ống nhiều bậc tự do
Chương 4 phân tích các yêu cầu kỹ thuật và thông số từ máy uốn ống tham khảo NC DW50NC (uốn ống tối đa $\varnothing 50 \times 3\text{ mm}$, bán kính uốn lớn nhất $R350\text{ mm}$, góc uốn cực đại $190^\circ$, chiều dài trục tâm $2200\text{ mm}$, áp lực dầu $12\text{ MPa}$, khối lượng $1220\text{ kg}$). Từ đó, tác giả xây dựng và so sánh ba phương án thiết kế kết cấu: uốn bằng thủy lực, uốn bằng đầu con lăn và đầu uốn nhiều bậc tự do. Tác giả phân tích lý do quyết định lựa chọn Phương án 3 dựa trên nguyên lý cơ cấu song song Stewart: cho phép tạo hình sản phẩm 3D phức tạp, độ linh hoạt cao, uốn được ống dài mà không tốn diện tích đổi khuôn, tiết kiệm chi phí đầu tư đồ gá. Sơ đồ động lực học và nguyên lý biến đổi chuyển động từ động cơ qua hộp giảm tốc, bánh răng nghiêng/thẳng đến vít me tịnh tiến từng chân máy cũng được làm rõ tại chương này.
Chương 5: Quy trình công nghệ gia công một số chi tiết
Chương 5 là nội dung trọng tâm về công nghệ gia công cắt gọt cơ khí của đồ án. Nhóm tác giả trình bày bản vẽ chế tạo, địa điểm thực hiện (Xưởng Bộ Môn Thực Hành Nghề), thiết bị máy móc (máy tiện Mascut, máy phay 2500QM), dụng cụ cắt gọt (chíp tiện T16 R04, dao khoan SK200M) và các bước nguyên công chi tiết cho từng bộ phận:
- Gia công chi tiết bánh răng nhỏ từ phôi $\varnothing 75 \times 35\text{ mm}$: tính toán chế độ cắt, tiện thô/tinh mặt đầu, vát mép, khoan tâm, tiện trụ ngoài đạt kích thước $\varnothing 69,7\text{ mm}$ dài $20\text{ mm}$ và nhiệt luyện.
- Gia công trục bánh răng lớn, chi tiết bao ngoài trục vít me và lắp ghép đai ốc.
- Gia công cụm định hướng vít me gồm ray trượt, thanh dẫn hướng, trục dẫn hướng $\varnothing 10 \times 188\text{ mm}$.
- Gia công cụm chân đầu uốn: trục ren $\varnothing 18 \times 217\text{ mm}$, trục ren $\varnothing 18\text{ M}16 \times 1,5$, tấm cố định.
- Gia công cụm đế và trụ đỡ: 4 trụ đỡ $\varnothing 40 \times 400\text{ mm}$ (khoan lỗ $\varnothing 14\text{ mm}$), tấm đế 1, tấm giữ motor ($90 \times 107\text{ mm}$), tấm giữ trên 2, tấm đế 4, tấm con lăn và tấm đỡ ống chống console.
Chương 6: Lắp ráp, thử nghiệm và đánh giá
Chương 6 trình bày toàn bộ quy trình lắp ráp cơ khí từng bước của hệ thống: lắp bánh răng vào bao ngoài vít me với vòng phe $\varnothing 55\text{ mm}$; lắp bao ngoài lên đế motor cùng ổ bi; lắp bánh răng nhỏ với hộp số; lắp trụ đỡ $\varnothing 40\text{ mm}$ vào tấm giữ trên 2; lắp ráp hệ thống ray trượt, vít me và tấm đỡ ống console vào tấm đế 1; gá đặt đầu máy lên khung máy và siết chặt bu-lông; liên kết các khớp nối cứng $15 \times 16\text{ mm}$, bạc dẫn hướng LMH20UU và lắp cụm chân uốn vào tấm con lăn tạo hình. Tác giả tiến hành tích hợp bộ thước quang Sino KA300-70 vào cơ cấu chuyển động của đầu uốn, thực hiện kiểm nghiệm khả năng vận hành của cơ cấu truyền động và tiến hành uốn thử nghiệm thực tế với phôi ống inox 304 đường kính $\varnothing 10\text{ mm}$. Phần cuối chương thảo luận về những hạn chế vận hành và đề xuất giải pháp cải tiến kết cấu cho thiết bị.
Kết quả và đóng góp
Đồ án đã đạt được các kết quả chế tạo thực tế và đóng góp kỹ thuật cụ thể như sau:
- Chế tạo hoàn chỉnh mô hình thực nghiệm cơ khí: Nhóm nghiên cứu đã hiện thực hóa thành công mô hình đầu uốn ống nhiều bậc tự do dựa trên nguyên lý cơ cấu song song Stewart, bao gồm đầy đủ 4 phân hệ chính: hệ thống khung máy chịu lực; cụm truyền động động cơ - hộp số giảm tốc - bánh răng - vít me; cụm định hướng phôi và ống đỡ chống console; cụm đầu tạo hình đa hướng tích hợp tấm con lăn uốn.
- Hoàn thành quy trình công nghệ gia công chi tiết cơ khí: Gia công đạt độ chính xác kích thước và độ bóng bề mặt theo thiết kế cho hàng loạt chi tiết phi tiêu chuẩn: bánh răng nhỏ (sau tôi đạt kích thước $\varnothing 69,7\text{ mm}$), bao ngoài vít me, trục dẫn hướng $\varnothing 18\text{ M}16 \times 1,5$, trụ đỡ $\varnothing 40 \times 400\text{ mm}$ (lỗ khoan $\varnothing 14\text{ mm}$), tấm giữ motor kích thước $90 \times 107\text{ mm}$, tấm con lăn và tấm đỡ ống console trên máy tiện Mascut và máy phay 2500QM.
- Tích hợp cảm biến đo lường chính xác: Tích hợp thành công bộ thước quang Sino mã hiệu KA300-70 trực tiếp lên đầu uốn ống, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đạc, kiểm soát hành trình tịnh tiến của các chân máy với độ chính xác cao.
- Kết quả thử nghiệm uốn: Mô hình đã vận hành thử nghiệm uốn thực tế trên vật liệu ống thép không gỉ Inox 304 đường kính ngoài $\varnothing 10\text{ mm}$, kiểm chứng được khả năng đẩy phôi của thoi đẩy thiết kế (đáp ứng thông số lực đẩy lý thuyết 1000 kg, chiều dài phôi tối đa $2\text{ m}$) và định vị phôi uốn ổn định qua ống console.
- Giải pháp và cải tiến đề xuất: Tác giả đề xuất phương án gia cố thêm độ cứng vững cho khung bệ máy; triệt tiêu khe hở ăn khớp và độ rơ cơ khí tại các khớp nối chân uốn; tích hợp hoàn chỉnh hệ thống điều khiển tự động vòng kín sử dụng động cơ servo 3 trục liên kết máy tính nhằm nâng cao độ chính xác góc uốn.
- Đóng góp học thuật và công nghệ: Đồ án đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết công nghệ uốn tự do FBF và nguyên lý Stewart áp dụng cho tạo hình ống tại Việt Nam; cung cấp quy trình công nghệ gia công cơ khí cụ thể, làm tài liệu tham khảo thực nghiệm giá trị cho việc nội địa hóa các dòng máy uốn ống biến dạng tự do thay thế máy nhập ngoại đắt tiền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Mặc dù đã chế tạo thành công mô hình phần cứng cơ khí, đồ án vẫn còn một số hạn chế được nhận diện từ thực tế nghiên cứu:
- Thiết bị mới dừng lại ở mức độ vận hành cơ khí và uốn thử nghiệm bước đầu; chưa tích hợp hoàn chỉnh hệ thống điều khiển tự động nhiều trục đồng bộ bằng động cơ servo và máy tính như mục tiêu thiết kế lý thuyết đặt ra trong Chương 1.
- Trong quá trình uốn thử nghiệm, do gia công trên máy công cụ vạn năng cắt gọt thông thường nên cụm chân uốn và các khớp liên kết vẫn tồn tại độ rơ cơ khí nhất định, có thể gây sai lệch bán kính uốn khi uốn các ống kim loại có chiều dày lớn hoặc độ cứng cao.
- Đồ án chưa thực hiện các phép đo định lượng cụ thể về hiện tượng hồi phục đàn hồi (springback), độ mỏng thực tế của thành ngoài ống và độ ô van hóa tiết diện ống sau khi uốn để đối chiếu với mô hình tính toán lý thuyết.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hướng:
- Thiết kế và lập trình hoàn thiện mạch điều khiển điện tử, kết nối máy tính và điều khiển đồng thời các động cơ servo theo 3 trục tọa độ để uốn tự động các đường cong không gian phức tạp.
- Cải tiến kết cấu cơ khí của các khớp nối chân uốn, sử dụng vật liệu hợp kim có độ bền cao hơn nhằm nâng cao độ cứng vững và triệt tiêu độ rơ lỏng.
- Xây dựng phần mềm mô phỏng và thuật toán bù trừ biến dạng hồi phục đàn hồi tự động cho các loại vật liệu ống khác nhau (nhôm, đồng, inox).
Giá trị tham khảo
Bản đồ án tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Sinh viên ngành Công nghệ Chế tạo máy, Cơ kỹ thuật, Cơ điện tử và Kỹ thuật công nghiệp đang thực hiện đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp về thiết kế máy, cơ cấu song song (Stewart platform / Hexapod) hoặc công nghệ uốn kim loại tấm - ống.
- Kỹ sư cơ khí và cán bộ kỹ thuật: Các kỹ sư thiết kế máy tại doanh nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy, điều hòa không khí, thiết bị y tế có nhu cầu tìm hiểu nguyên lý uốn biến dạng dẻo tự do không khuôn (FBF) nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất ống cong phức tạp.
Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất trong tài liệu gồm:
- Toàn bộ Chương 5 với quy trình công nghệ lập phiếu gia công chi tiết thực tế: từ việc tính toán chế độ cắt (chiều sâu cắt $t$, lượng chạy dao $S$, tốc độ trục chính $n$), chọn dụng cụ cắt (chíp tiện T16 R04, dao khoan SK200M) đến các bước gá đặt, tiện thô, tiện tinh, vát mép và khoan tâm trên máy tiện Mascut và máy phay 2500QM.
- Bản vẽ phân rã kết cấu 3D và phương pháp lắp ráp từng bước cơ cấu cụm đầu uốn nhiều bậc tự do, cụm bánh răng vít me và cách bố trí cảm biến thước quang Sino KA300-70.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu đầu uốn nhiều bậc tự do trong đồ án hoạt động dựa trên nguyên lý cơ học nào?
Mô hình hoạt động dựa trên nguyên lý bệ dịch chuyển song song do Stewart đưa ra năm 1965 (nguyên lý Stewart / Hexapod). Cơ cấu bao gồm 6 chân máy có thể thay đổi chiều dài tịnh tiến độc lập thông qua bộ truyền động vít me - đai ốc, liên kết giữa bệ tĩnh và bệ động bằng các khớp nối. Khi thay đổi hành trình tịnh tiến của các chân máy, góc nghiêng và vị trí của tấm con lăn uốn trên bệ động trong không gian 3D sẽ thay đổi tương ứng, giúp uốn ống theo các biên dạng cong tự do mà không cần thay khuôn uốn tĩnh.
2. Phôi uốn thực nghiệm trong đồ án được nhóm tác giả lựa chọn là loại vật liệu nào và kích thước bao nhiêu?
Nhóm nghiên cứu chọn phôi uốn thực nghiệm là ống thép không gỉ Inox 304 (thép austenitic chứa 18% Crom và 8% Niken) có quy cách đường kính ngoài $\varnothing 10\text{ mm}$ và chiều dày thành ống $0,3\text{ mm}$. Vật liệu này được lựa chọn do có độ bền cao, tính dẻo và độ giãn dài khi biến dạng uốn nguội rất tốt, bề mặt bóng thẩm mỹ và khả năng chống ăn mòn cao.
3. Thiết bị đo lường hành trình nào được lắp đặt trực tiếp trên mô hình đầu uốn để kiểm soát dịch chuyển?
Mô hình được tích hợp bộ thước quang đo dịch chuyển số hóa của hãng Sino, model KA300-70. Thước quang được lắp cố định vào cơ cấu chuyển động của đầu uốn để theo dõi và hiển thị trực tiếp hành trình dịch chuyển tịnh tiến của các cụm uốn, hỗ trợ kiểm nghiệm khả năng vận hành chính xác của hệ thống.
4. Quy trình tiện thô mặt đầu chi tiết bánh răng nhỏ trên máy tiện Mascut sử dụng các thông số chế độ cắt nào?
Trong nguyên công 1 gia công bánh răng nhỏ từ phôi thép tròn $\varnothing 75 \times 35\text{ mm}$, bước tiện thô mặt đầu được thực hiện với chiều sâu cắt $t = 2\text{ mm}$ (tiện 1 lần), tốc độ quay trục chính máy tiện cài đặt $n = 310\text{ vòng/phút}$ (tốc độ cắt tính toán đạt $297\text{ m/phút}$) và lượng chạy dao $S = 0,3\text{ mm/vòng}$.
5. Vì sao nhóm tác giả lại lựa chọn phương án đầu uốn nhiều bậc tự do thay vì phương án máy uốn thủy lực truyền thống?
Mặc dù máy uốn thủy lực có lực đẩy và lực kẹp lớn, nhưng kết cấu cồng kềnh, chi phí chế tạo cao và bị giới hạn bởi khuôn uốn tĩnh. Phương án đầu uốn nhiều bậc tự do theo nguyên lý cơ cấu song song được lựa chọn vì có khả năng tạo hình các biên dạng không gian 3D rất phức tạp, độ linh hoạt cao, tiết kiệm thời gian gia công nhờ không phải thay đổi khuôn mẫu khi đổi bán kính uốn, đồng thời giảm thiểu chi phí đầu tư thiết bị phụ trợ.
Kết luận
Đồ án tốt nghiệp "Chế tạo mô hình đầu uốn ống nhiều bậc tự do" của nhóm sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ thiết kế, lập quy trình công nghệ gia công cắt gọt và chế tạo thực tế một hệ thống đầu uốn ống không khuôn dựa trên nguyên lý cơ cấu song song Stewart. Mô hình phần cứng hoàn chỉnh gồm khung máy, cụm truyền động vít me - đai ốc, cụm thoi đẩy lực 1000 kg, cụm định hướng ống console và đầu uốn con lăn tích hợp thước quang Sino KA300-70 đã được lắp ráp và vận hành uốn thử nghiệm thành công trên phôi ống inox 304 đường kính $\varnothing 10\text{ mm}$. Đây là công trình kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao trong ngành công nghệ chế tạo máy, cung cấp giải pháp công nghệ tạo hình uốn ống tự do linh hoạt, mở ra hướng nghiên cứu làm chủ và tự động hóa các thiết bị uốn ống không gian phức tạp tại Việt Nam.