Chương 1 MOT SO VAN DE KHÁI QUÁT CHUNG VE CHE ĐỘ BẢO HIẾM THAI SAN 1. Khai niệm, vai trò chế độ bảo hiểm thai sản 1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản fe) Dinh nghia chế độ bảo hiểm thai sản Xem xét về yếu tố lich sử thì bảo hiểm xã hội được cho là bắt đầu xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ 19 — giai đoạn đầu của nền công nghiệp khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, mối quan hệ giữa người lao động làm thuê và giới chủ dần trở nên phức tạp. Người lao động làm thuê không chỉ cần có sự đảm bảo về mặt thu nhập từ việc làm mà còn cần có một khoản thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, mất việc hoặc thai sản.
Nguôn tài chính chung hình thành từ sự đóng góp của cả người lao động làm thuê và giới chủ để hỗ trợ cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro trong đời sống chính là cơ sở ban đầu hình thành nên bảo hiểm xã hội. Sự xuất hiện của bảo hiểm xã hội là một tat yếu khách quan, đã và đang trở thành nhu cầu và quyên lợi quan trọng nhất của người lao động. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, bảo hiểm xã hội đã được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và trở thành một trong những quyền con người mà Đại hội đồng Liên Hợp quốc thừa nhận trong tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội. Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa can cho nhân cách và tự do phat triển của con người”.
Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề định nghĩa chuẩn mực về bảo hiểm xã hội, cho đến thời điểm hiện nay vẫn còn nhiều sự tranh luận do các quan điêm được đưa ra dưới nhiêu góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tê, các nhà kinh tê học cho răng bảo hiém xã hội là sản phâm tât yêu của nên kinh tê hàng hoá. Khi trình độ phát triên kinh tê của một quôc gia đạt đên một mức độ nào đó thì hệ thông bảo hiêm xã hội có điêu kiện ra đời và phát triển. Ở góc độ này, bảo hiểm xã hội có thể được hiểu là một biện pháp phân 8 phối lại thu nhập của các cá nhân trong xã hội thong qua một quỹ tiền tệ tap trung đóng góp từ các nguôn thu nhập của cá nhân, tô chức, Nhà nước.
Ở góc độ xã hội, bảo hiểm xã hội có thé được hiểu là một chính sách xã hội mà trong đó, các rủi ro về thu nhập của cá nhân tham gia bảo hiểm sẽ được bù đắp hoặc thay thế bằng nguồn kinh phí tài chính có được từ sự đóng góp của các thành viên, nham đảm bảo an toàn xã hội. Ở góc độ khoa học pháp lý, thuật ngữ bảo hiểm xã hội lần đầu tiên được chính thức sử dụng như một danh từ pháp lý vào năm 1935 (trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Trải qua thời gian dài sau đó, cùng với sự phát triển mở rộng của nền kinh tế, thuật ngữ bảo hiểm xã hội dần được chấp nhận và sử dụng trong các văn bản pháp luật của các quốc gia và văn bản pháp luật quốc tế. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập từ nghề nghiệp do bị mat hoặc giảm khả năng lao động hoặc bị mat việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm đóng góp phan dam bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, dong thời góp phan đảm bảo an toàn xã hội”.
Với cách hiéu này, mục tiêu, ban chất va chức năng của bảo hiểm xã hội đã được thé hiện một cách khá 16 nét và có thê khái quát bao hàm chung các cách hiệu dưới các góc độ kinh tê và xã hội. Tại Việt Nam, bảo hiểm xã hội được định nghĩa là “sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phân thu nhập của người lao động khi ho bị giảm hoặc mắt thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Khoản 1 Điều 3 Luật Bao hiểm xã hội 2014). Chế độ bảo hiểm xã hội được hiểu là tập hợp những quy định của mỗi quốc gia về bảo hiểm thu nhập, bảo đảm sức khoẻ do những rủi ro xã hội cho người lao động thông qua một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy từng trường hợp đặc thù mà rủi ro đó có thé là do người lao động 6m đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mat khả năng lao động,.Chê độ bảo hiém xã hội nhăm mục đích từng bước mở rộng và nâng cao 9 việc bảo đảm vat chất, chăm sóc sức khỏe, phục hồi sức khỏe, góp phần ôn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động gặp rủi ro trong đời sống.
Là một trong những chế độ của bảo hiểm xã hội, trên cơ sở các quan điểm, định nghĩa về bảo hiểm xã hội như trên, có thé hiểu: Chế độ bảo hiểm thai sản là tập hợp các quy định của pháp luật về việc thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập cũng như dam bao sức khỏe cho người lao động khi phải nghỉ việc trong thời gian mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc có các sự kiện thai sản khác trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ tài chính chung của người lao động, người sử dụng lao động và sự hô trợ của Nhà nước. fe) Đặc diém của chế độ bao hiém thai san La một trong những chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm thai sản mang bản chất chung của bảo hiểm xã hội đồng thời cũng có những đặc trưng riêng khác biệt với những chê độ bảo hiém xã hội khác. Cụ thê như sau: Một là, bảo hiểm thai sản là một chế độ bảo hiểm đặc thù gắn liên chủ yếu là với lao động nữ khi có các sự kiện thai sản. Chế độ bảo hiểm thai sản xuất hiện là nhu cầu khách quan đòi hỏi tạo điều kiện chủ yếu cho lao động nữ thực hiện chức năng làm mẹ bên cạnh hoạt động xã hội.
Đối tượng áp dụng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuôi sinh đẻ khi họ mang thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh hoặc có các sự kiện thai sản khác như khám thai, sảy thai, thực hiện các biện pháp tránh thai,. Chế độ bảo hiểm thai sản thé hiện trách nhiệm của Nhà nước và của cộng đồng xã hội đối với thé hệ tương lai, đồng thời cũng thể hiện sự bình đăng giữa những người lao động. Đây cũng là đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt chế độ bảo hiểm thai sản với các chê độ bảo hiêm khác trong hệ thông chính sách an sinh xã hội. Hai là, chế độ bảo hiểm thai sản phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và điên ra giữa ba bên là bên tham gia, bên bảo hiém và bên được bao hiém.
10 Chê độ bao hiêm thai sản mang ban chat của bảo hiêm xã hội với môi quan hệ xuyên suôt là môi quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyên lợi của các bên trong quan hệ bảo hiém xã hội. Môi quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và dién ra giữa 3 bên: bên tham gia, bên bảo hiêm và bên được bảo hiém. - Bên tham gia bảo hiểm là bên có trách nhiệm đóng góp vào Quỹ bảo hiểm xã hội, trong đó có bảo hiểm thai sản theo quy định của pháp luật, gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Người lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội để bảo hiểm về mặt thu nhập và chăm sóc sức khỏe cho bản thân họ khi họ mang thai, sinh con, nuôi con nuôi hoặc có các sự kiện thai sản khác.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia cho người lao động nữ mà mình thuê mướn, sử dụng. Nhà nước tham gia với hai tư cách. Thứ nhất, Nhà nước tham gia với tư cách là người sử dụng các công chức/viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nhà nước tham gia đóng góp thông qua kinh phí từ ngân sách nhà nước, với ty lệ đóng góp tương đương người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, đóng góp vào quỹ tài chính làm nguồn kinh phí chỉ trả chế độ bảo hiểm thai sản cho người lao động làm việc trong các cơ quan, đơn vi sự nghiệp của Nhà nước.
Thứ hai, Nhà nước tham gia với tư cách là người hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội trong những trường hợp cần thiết và với tư cách chủ thể quản lý, hướng cho các hoạt động bảo hiém xã hội nói chung và bảo hiém thai sản nói riêng. - Bên bảo hiểm là bên nhận tiền đóng góp bảo hiểm xã hội từ những người tham gia bảo hiểm xã hội, thường là một số tổ chức, cơ quan do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thé do tư nhân, tô chức kinh tế - xã hội lập ra theo quy định của pháp luật) và được nhà nước bảo trợ, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định chặt chẽ của pháp luật. Đối với chế độ thai sản, bên bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp thai sản cho bên được bảo hiểm khi có đủ các điều kiện theo các quy định của pháp luật. - Bên được bảo hiểm là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu bảo hiểm xã hội, dé bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi ro được bảo hiém gây ra.
Trong chê độ bảo hiém thai sản, bên được bảo hiém là lãi người lao động nữ mang thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, sảy thai, thực hiện biện pháp tránh thai,.hoac người lao động nam có vợ mang thai, sinh con, nuôi con ^š š 2 nuôi sơ sinh,. Ba là, chê độ bảo hiém thai sản mang tính chát ngăn hạn nhưng có tính xã hội hoá cao, được thực hiện thường xuyên và déu đặn, dién ra một cách liên tục do tính tuân hoàn của sự sông.