Đặt vấn đề Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng của nền nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người dân hiện nay. Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 70% dân số sống dựa vào nông nghiệp. Nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về thực phẩm nguồn gốc động vật ngày càng tăng nhanh của con người, với sự ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học và công nghệ, ngành chăn nuôi đã được hiện đại hóa về công nghệ và cho ra đời nhiều hệ thống chăn nuôi thâm canh. Trong những năm gần đây nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nghề chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển mạnh như tăng tổng số đàn, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao.
Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ và vừa ngày càng tăng lên (Nguyễn Xuân Trạch, 2019) [23]. Sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2021 gặp nhiều khó khăn do tác động từ dịch tả lợn châu Phi. Dịch Covid-19 trên thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến sản xuất. Trước những khó khăn đó, ngành chăn nuôi đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả nên kết quả sản xuất đạt khá, chăn nuôi lợn đang dần khôi phục.
Theo Tổng cục Thống kê, dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn đang dần khôi phục nhưng việc tái đàn vẫn còn chậm, giá lợn giống liên tục ở mức cao kể từ đầu năm nên việc tái đàn chủ yếu tập trung ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Trong tình hình đó, nước ta vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi lợn như có nguồn Luan van 2 nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, có sự đầu tư của nhà nước, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến (Nguyễn Đăng Vang, 2020) [24]. Trong ngành chăn nuôi lợn, lợn nái có vai trò rất quan trọng, nhất là nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc. Đồng thời cung cấp con giống cho các khu vực lân cận.
Để có thể giúp các gia đình cũng như các trang trại có ý muốn nuôi lợn nái quy mô nhỏ đến quy mô lớn hơn những kiến thức cần thiết về khoa học công nghệ chăn nuôi và một số biện pháp chính quản lý kinh tế sao cho có lợi em tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Tín Nghĩa, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. - Giúp sinh viên chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trại. Yêu cầu - Đánh giá được quy trình chăn nuôi tại trại lợn Tín Nghĩa , huyện Ứng Hòa , thành phố Hà Nội - Nắm vững quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề cá nhân.
Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên *Vị trí địa lý Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm ở Đông Nam của thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên là 183. Dân số khoảng 179.
Huyện Ứng Hòa có vị trí địa lý như sau. Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai. Phía Nam giáp huyện Duy Tiên và Kim Bảng của tỉnh Hà Nam. Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức.
Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên. Địa hình đất đai Nhìn chung, địa hình của huyện Ứng Hòa tương đối bằng phẳng. Dòng sông Đáy chia địa hình huyện Ứng Hòa thành hai vùng phía Tây và phía Đông, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng. Thời tiết khí hậu Huyện Ứng Hòa có đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm.
Mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Nằm trong vùng nhiệt đới, huyện Ứng Hòa quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào cao nhất là tháng 6 (29,8ºC), thấp nhất là tháng 1 (17,2ºC). Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 70 - 85%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900 mm và mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa.
Tình hình sản xuất và cơ sở vật chất của trang trại 2.1 Quá trình thành lập Trại lợn nái Tín Nghĩa, là trại lợn được thành lập 2016 là trại tư nhân có truồng trại khoảng 500 nái. Cơ cấu tổ chức của trang trại - 1 chủ trại. - 7 công nhân khu vực nuôi lợn nái (4 truồng bầu và 3 truồng đẻ ). - 3 sinh viên thực tập.
Cơ sở vật chất của trang trại - Thiết kế xây dựng: diện tích đất trang trại là 2 ha. Trước cổng ra vào trại có nước sát trùng, có vòi phun sát trùng cho phương tiện giao thông ra vào trại. Cách cổng chính 100 m là khu điều hành với diện tích đất khoảng 0,2 ha gồm nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, nhà bếp ăn và công trình vệ sinh phục vụ cho ăn ở và mọi sinh hoạt của công nhân và sinh viên. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho hơn 500 nái bao gồm: 4 chuồng đẻ có 112 ô kích thước 2,05 m × 1,8 m/ô.
2 chuồng bầu có 520 ô kích thước 2,06 m × 0,66 m/ô; 1 chuồng cách ly, 3 chuồng cai sữa, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… Hệ thống chuồng bầu: Mỗi chuồng gồm 4 dãy, nuôi các lợn chờ lên giống, lợn đang phối, lợn mới phối xong đang ở giai đoạn đầu và lợn đực giống lấy tinh. Cuối dãy 1 là khu lợn có vấn đề và lợn loại thải. Sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng, giúp công việc vệ sinh khử trùng được dễ dàng. Bên cạnh chuồng bầu là phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác.
Luan van 5 Hệ thống chuồng đẻ: Có 2 dãy gồm các ô được đánh thứ tự để dễ dàng chăm sóc và quản lý. Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn lợn con làm bằng nhựa cứng. Phần chuồng cho lợn con khá rộng, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt, mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, bên ngoài là một máng tập ăn cho lợn con. Hệ thống chuồng cai sữa.
Mỗi chuồng được chia ra 8 ô, mỗi ô rộng 25m², mỗi ô nuôi được 25 con, 1 ô cuối để chứa lợn con bị bệnh. Hệ thống chuồng trại được xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng đẻ và chuồng bầu đều có 6 quạt thông gió và 4 quạt đối với chuồng cách ly và chuồng cai sữa có 5 quạt. Hai bên tường có dãy cửa sổ, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 0,95 m, mỗi cửa sổ cách nhau 2 m.
Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở bên ngoài khu chăn nuôi.
Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trại lợn Tín Nghĩa nuôi lợn nái sinh sản, gồm hai giống lợn: lợn cái 2 máu của CP - với lợn đực Duroc. Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, của Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi cargill Việt Nam phù hợp cho từng đối tượng lợn của trại.
Luan van 6 * Công tác vệ sinh thú y của trại Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng. Nó có tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống. Công tác vệ sinh. Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông xung quanh các chuồng nuôi đều trồng các cây xanh tạo cho các chuồng nuôi có độ thông thoáng và mát tự nhiên.
Sau mỗi lứa lợn, chuồng trại đều được tẩy uế bằng phương pháp rửa sạch ô nhốt lợn, để khô sau đó phun thuốc sát trùng và để trống chuồng nuôi tối thiểu là 3 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ khác lên. Với lợn con tuyệt đối không tắm rửa để tránh lạnh và ẩm ướt. Định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn đực sản xuất bằng thuốc sát trùng. Hàng ngày công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phát quang bụi rậm, diệt chuột, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định.
Công tác phòng bệnh. Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào. Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con.