chương 1 còn đi tìm hiểu và thảo luận các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên thế giới. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, xác định Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng đó là thực hiện việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTMCP là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nguồn tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng thương mại Theo điều IV của Luật các TCTD, nguồn tài trợ cho hoạt động của ngân hàng hay còn gọi là hoạt động tạo lập nguồn vốn của ngân hàng gồm có vốn chủ sở hữu, nhận tiền z 2 gửi của khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, nhận ủy thác đầu tư, vay các TCTD khác và Ngân hàng Trung ương.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Đó là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau và được phân thành: vốn cấp 1 (vốn cơ bản) được xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự của ngân hàng; vốn cấp 2 (vốn bổ sung) được giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1. Do tính chất đặc thù trong kinh doanh ngân hàng nên vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM.
Vốn chủ sở hữu tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng. Nó đóng vai trò là một tấm đệm giúp NHTM chống lại rủi ro trong quá trình hoạt động. Vốn chủ sở hữu tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với người gửi tiền, chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng. Do vậy, các nhà chức trách tiền tệ đã có rất nhiều những quy định về hoạt động của NHTM liên quan chặt chẽ đến vốn chủ sở hữu như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh, quy định về mức dư nợ cho vay tối đa, mở chi nhánh, nắm giữ cổ phiếu của các công ty khác… Thứ hai, tiền gửi của khách hàng Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Các khoản tiền gửi là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng nhận được từ các cá nhân và các tổ chức kinh tế thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ huy động, thanh toán và các nghiệp vụ khác. Bản chất của tiền gửi là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau mà ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn z 3 kinh doanh của NHTM. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế, cùng với việc gia tăng nhu cầu thanh toán của dân cư và việc nâng cao chất lượng dịch vụ của NHTM. Thứ ba, phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa ngân hàng phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác. Ngân hàng được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh. Ngân hàng được phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
Đối với người mua giấy tờ có giá là tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngân hàng chỉ được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh. Thứ tư, vay các TCTD khác và Ngân hàng Trung ương Ngoài các hình thức huy động nói trên, khi nhu cầu vốn của khách hàng tăng cao hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do nhiều dòng tiền rút ra, các NHTM có thể huy động bằng cách đi vay các TCTD khác hoặc vay từ Ngân hàng Trung ương. Đây là nguồn vốn mà các TCTD vay mượn lẫn nhau thông qua hoạt động trên thị trường liên ngân hàng. Theo nguyên tắc, Ngân hàng Trung ương là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, vì vậy sau khi các NHTM vay vốn từ các nguồn khác mà vẫn chưa đủ thì NHTM sẽ tìm đến nguồn cung ứng vốn từ Ngân hàng trung ương.
Thứ năm, nhận ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính Phủ hoặc của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lý nhận ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian hưởng phí. Trong thời gian vốn được ngân hàng tiếp nhận nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, ngân hàng có được nguồn vốn để kinh doanh. Nét đặc thù của ngân hàng so với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh NHTM đã trở thành một mắc xích quan trọng không thể nào thiếu được trong sợi dây kết nối vận hành vòng quay sản xuất hoạt động kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế. Nét đặc thù của ngân hàng so với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được thể hiện qua các điểm sau: NHTM là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Do đó, hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có rủi ro cao. Là tổ chức trung gian với chức năng tập trung, huy động các nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời, chuyển chúng đến những nơi thiếu và cần vốn. Nguồn vốn chủ yếu mà các ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, vì vậy sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng. Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, đặc biệt bị chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Sự chi phối này được thể hiện qua các quy định chặt chẽ về vốn tối thiểu và các tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ an toàn hoạt động, và các quy định khác. Tóm lại, ngân hàng có thể khác biệt với doanh nghiệp ở rất nhiều yếu tố, nhưng ngân hàng là một loại hình đặc biệt của doanh nghiệp. NHTM mang theo những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp: hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng cũng có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp hiện hữu, cũng tự chủ về tài chính và cũng phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, những lý thuyết về cấu trúc vốn của ngân hàng cũng khởi đầu từ lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp nói chung. Cấu trúc vốn 1. Khái niệm về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh z 5 nghiệp (Trần Ngọc Thơ và các tác giả, 2007). Ngoài ra, cấu trúc vốn còn được định nghĩa là quan hệ về tỷ trọng hay sự phối hợp các nguồn vốn được sử dụng bởi doanh nghiệp.
Hầu hết các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp đều xoay quanh hai thành tố chính của nguồn vốn tài trợ là nợ và vốn chủ sở hữu. Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được thể hiện trong bảng 1.1: So sánh nợ và vốn chủ sở hữu Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu 1. Thời hạn Có thời hạn hoàn trả. Không có thời hạn hoàn trả.
Trách nhiệm thanh Phải trả lãi đối với nợ vay. Không phải trả lãi mà chia lãi toán Doanh nghiệp có thể bị dựa vào kết quả kinh doanh và phá sản nếu không thanh chính sách phân phối lợi nhuận. toán được nợ gốc và lãi. Doanh nghiệp không bị phá sản nếu không chia lãi.
Ảnh hưởng đến thuế Lãi vay có tác động làm Lãi chia cho các chủ sở hữu thu nhập doanh nghiệp giảm thuế. không làm giảm thuế. Chi phí sử dụng vốn Thấp. Nguồn: Ngô Kim Phượng và các tác giả (2013) Cấu trúc vốn tối ưu được định nghĩa là cấu trúc vốn mà tại đó chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ và các tác giả, 2007).
Xây dựng cấu trúc vốn tối ưu là một vấn đề khá thú vị cả trong nghiên cứu lý luận lẫn áp dụng trong thực tiễn. Việc xác định cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng là đi tìm mức độ đòn bẩy tài chính phù hợp trong cơ cấu nguồn vốn. Quyết định này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, từ đó tác động đến chi phí sử dụng vốn và giá trị của doanh nghiệp.