Chương I chủ yếu là điểm qua các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ở các nền kinh tế trên thế giới và ở Việt Nam. Các kết quả đưa ra cho thấy, những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn mang đặc thù công ty gồm có: khả năng sinh lời, cấu trúc tài sản, quy mô công ty, cơ hội tăng trưởng, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế phi nợ. Tùy theo môi trường kinh tế mà các tác giả đưa thêm một số biến đặc thù nền kinh tế như: thuế suất, lãi suất, lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng GDP… và một số biến mang đặc thù của thị trường tài chính. Tuy nhiên, hướng tác động và mức độ tác động của các nhân tố có lúc giống và cũng có lúc khác nhau giữa các nghiên cứu.
Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam còn cho thấy tác động của sở hữu nhà nước đến cấu trúc vốn. Các kết quả nghiên cứu trên sẽ là nền tảng để tác giả đưa ra mô hình phù hợp khi nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng ở Việt Nam cũng như xem xét những điểm đồng nhất hay khác biệt về kết quả nghiên cứu của mình so với những nghiên cứu trước đây. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Đặc điểm cấu trúc vốn của ngành xây dựng 2.1 Đặc điểm chung của ngành xây dựng Ngành xây dựng là ngành thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng. Chu kỳ sản xuất của ngành thường dài, sản phẩm đa dạng, tính cá biệt cao và chi phí lớn.
Sản phẩm của ngành là tạo ra cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho phát triển đất nước. Ngành xây dựng cũng là một trong số những ngành nhạy cảm với chu kỳ kinh tế. Do đó, khi nền kinh tế thịnh vượng thì ngành xây dựng cũng phát triển, lợi nhuận cao. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, ngành xây dựng cũng chịu thiệt hại nặng nề.
Do nhu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn chậm nên cấu trúc tài chính của ngành xây dựng chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: tác động của chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính – tiền tệ. Ngânh xây dựng là ngành thâm dụng vốn, do đó các công ty thường huy động vốn bằng nhiều nguồn và nhiều hình thức khác nhau: vay ngân hàng, phát hành trái phiếu và cổ phiếu. Với những đặc điểm trên, cấu trúc vốn của ngành này sẽ có những điểm khác biệt so với những ngành khác.2 Thực trạng cấu trúc vốn của ngành xây dựng Trong phần này đề tài tóm tắt một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn để thấy được tổng quan cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp niêm yết. Số liệu trong phần này là số liệu tổng hợp báo cáo tài chính qua các năm được lấy từ trang cophieu68.com, tác giả tính toán các chỉ tiêu tài chính các năm từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 2008 đến 2011 và trung bình của 4 năm.
Đề tài không đi sâu vào phân tích tình hình tài chính của ngành và cấu trúc vốn từng công ty.1: Bảng tổng hợp cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn ngành xây dựng Trung STT Tỷ lệ tài chính 2011 2010 2009 2008 bình 1 Tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản 62,4% 62,0% 62,0% 61,0% 61,9% 2 Tài sản dài hạn/Tổng tài sản 37,6% 38,0% 38,0% 39,0% 38,1% 3 Tài sản cố định/Tổng tài sản 27,1% 25,8% 27,0% 28,4% 27,1% 4 Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn 74,2% 73,6% 74,3% 74,4% 74,1% 5 Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu 347,3% 331,1% 325,8% 316,1% 330,1% 6 Vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn 21,4% 22,2% 22,8% 23,5% 22,5% 7 Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản 53,9% 50,7% 52,7% 50,9% 52,1% 8 Nợ dài hạn/Tổng tài sản 20,3% 22,9% 21,6% 23,5% 22,1% Nguồn: số liệu được tác giả tính toán từ báo cáo tài chính các công ty lấy từ trang www.com Ngành xây dựng có tỷ lệ tài sản ngắn hạn khá cao, trung bình là 61,8%. Tỷ lệ tài sản ngắn hạn có xu hướng tăng lên theo thời gian tương ứng với việc sụt giảm của tỷ lệ tài sản dài hạn. Tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản dài hạn. Tỷ lệ này có sự ổn định qua các năm, ngoại trừ sự sụt giảm năm 2010.
Những kết quả này cho thấy cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp xây dựng khá ổn định. Bên nguồn vốn, tỷ lệ nợ phải trả khá cao, chiếm hơn 74% tổng tài sản, gấp 3 lần so với vốn chủ sở hữu. Điều này chứng tỏ ngành xây dựng duy trì một tỷ lệ nợ quá cao. Cấu trúc vốn của ngành cũng tương đối ổn định qua các năm.
Trong nợ phải trả, nợ ngắn hạn chiếm ưu thế so với nợ dài hạn. Nợ dài hạn trung bình chiếm đến 52.1% trong khi nợ dài hạn chỉ chiếm có 22. Điều này có vẻ phù hợp vì ngành xây dựng có thời gian hoàn vốn dài nên thường rất cần vốn lưu động từ bên ngoài để tài trợ cho các công trình thay vì sắm máy móc thiết bị hay đầu tư dài hạn. Tỷ lệ tài sản ngắn hạn khá cao chứng tỏ nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn là chủ yếu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Bảng so sánh cấu trúc vốn bình quân ngành xây dựng với các ngành khác Tổng nợ phải trả/ Tổng nợ phải trả/ Nhóm ngành Tổng nguồn vốn Vốn chủ sở hữu Bất Động Sản 59% 156% Cao Su 37% 59% Chứng Khoán 43% 77% Công Nghệ Viễn Thông 53% 125% Dịch vụ - Du lịch 53% 118% Dược Phẩm / Y Tế / Hóa Chất 59% 145% Giáo Dục 43% 76% Khoáng Sản 60% 154% Năng lượng Điện/Khí/Gas 51% 108% Ngân hàng- Bảo hiểm 92% 1150% Ngành Thép 68% 218% Nhóm Dầu Khí 75% 348% Nhựa - Bao Bì 48% 92% Sản Xuất - Kinh doanh 51% 108% Thực Phẩm 36% 64% Thương Mại 61% 167% Thủy Sản 62% 175% Vận Tải/Cảng / Taxi 57% 145% Vật Liệu Xây Dựng 75% 306% Xây Dựng 74% 347% Nguồn: số liệu lấy từ cophieu68.com Khi so sánh với các ngành ta thấy ngành xây dựng có tỷ lệ nợ gần cao nhất trong tất cả nhóm ngành, chỉ đứng sau ngành ngân hàng-bảo hiểm (92%), dầu khí (75%) và ngành vật liệu xây dựng (75%). Điều này cũng chứng tỏ được bản chất của ngành xây dựng là ngành có chu kỳ kinh doanh dài và có khả năng sinh lời khá thấp (ROA trung bình 2%) nên nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc vào vốn bên ngoài, bao gồm nợ vay và các khoản phải trả khác.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn này tác giả sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng. Nghiên cứu định tính là việc tổng hợp những nghiên cứu đã có trước đây để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng. Nghiên cứu định lượng là việc phân tích, so sánh và thống kê số liệu.
Mô hình kinh tế lượng được đưa vào để nghiên cứu tác động của biến độc lập đến biến phụ thuộc. Sau khi thu thập đầy đủ số liệu, tác giả tính toán các chỉ số bằng Excel và tiến hành chạy hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) thông qua phần mềm thống kê SPSS20. Các bước thực hiện như sau: 2.1 Xây dựng các biến và giả thuyết nghiên cứu Sau khi tham khảo các lý thuyết nền tảng và một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây, đề tài đã chọn ra các nhân tố đặc thù ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Việt Nam: - Khả năng sinh lời (PRO) Khả năng sinh lời được đo lường bằng lợi nhuận trước thuế chia cho tổng tài sản. Các lý thuyết về cấu trúc vốn không đồng nhất quan điểm về sự ảnh hưởng của khả năng sinh lời.
Theo như Thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, khả năng sinh lời có tương quan cùng chiều với đòn bẩy tài chính. Nghĩa là các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường có xu hướng sử dụng nhiều nợ vay để sử dụng tấm chắn thuế. Thuyết Trật tự phân hạng lại cho rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lời thì thường ít sử dụng nợ vì họ thích sử dụng nguồn vốn nội bộ hơn. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh cho nhận định của Thuyết trật tự phân hạng.
Do đó, trong đề tài này tác giả cũng giả định là khả năng sinh lời có tương quan ngược chiều với cấu trúc vốn. Giả thuyết H1: Khả năng sinh lời có tương quan ngược chiều với đòn bẩy tài chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 - Quy mô công ty (SIZE) Quy mô công ty được đo lường bằng doanh thu của công ty. Do số liệu quá lớn nên được logarit hóa. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cho kết quả quy mô công ty có tương quan đồng biến với cấu trúc vốn.
Riêng nghiên cứu của Dũng Nguyễn (2012) cho thấy quy mô công ty có tương quan cùng chiều với tỷ số nợ dài hạn nhưng lại có tương quan ngược chiều với tỷ số nợ ngắn hạn. Trong đề tài này, tác giả giả định quy mô công ty có tương quan cùng chiều với đòn bẩy tài chính. Giả thuyết H2: Quy mô công ty có tương quan cùng chiều với đòn bẩy tài chính. - Cấu trúc tài sản (TANG) Cấu trúc tài sản được tính bằng tỷ số tài sản cố định chia cho tổng tài sản.
Theo các lý thuyết về cấu trúc vốn thì cấu trúc tài sản có tương quan cùng chiều với tổng tài sản. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm cũng chưa nhất quán về vấn đề này. Nghiên cứu ở Châu Âu (Antoniou, 2002), Mỹ (Frank &Goyal, 2007) và Malaysia (Baharuddin, 2011) cho kết quả đồng biến; ở các nước đang phát triển (Bas, 2009) và Việt Nam (Trần Đình Khôi Nguyên, 2006), Trung Quốc (Huang &Song, 2002) cho kết quả nghịch biến; kết quả của Dũng Nguyễn (2012) và Bùi Phan Nhã Khanh (2012) đều cho thấy tương quan ngược chiều với đòn bẩy ngắn hạn và cùng chiều với đòn bẩy dài hạn; kết quả với đòn bẩy dài hạn ở Trung Quốc cũng tương tự Việt Nam.