chương 1, luận văn giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi của nghiên, ý nghĩa thực tiễn cũng như giới thiệu sơ lược về bố cục của đề tài. Chương 02: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty phi tài chính. Trong chương 2, luận văn trình bày về khái niệm cấu trúc vốn và các lý thuyết về cấu trúc, bao gồm: các quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn, lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết thời điểm thị trường. Luận văn cũng giới thiệu tình hình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu về vấn đề cấu trúc vốn của một số học giả, nhà nghiên cứu 4 trên thế giới và trong nước với các khu vực, thời gian và đối tượng nghiên cứu khác nhau.
Cuối cùng, luận văn trình bày về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty phi tài chính. Đây sẽ là cơ sở cho việc thiết lập các giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn các biến trong mô hình hồi quy về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE được trình bày trong chương 4 của luận văn. Chương 03: Giới thiệu cấu trúc vốn các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Trong chương 3, trước hết luận văn giới thiệu về sự thành lập của sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, quy mô niêm yết và các đặc điểm hoạt động, xem xét các yếu tố đặc trưng của thị trường chứng khoán Việt Nam có ảnh hưởng đến cấu trúc của các công ty niêm yết trên sàn.
Đồng thời, luận văn cũng trình bày tổng quan về thực trạng cấu trúc vốn của các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn từ 2009 đến nay. Chương 04: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Mục tiêu của chương 4 là tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE. Với nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ Báo cáo tài chính của 147 công ty niêm yết trên HOSE từ 2009 – 2013, tác giả đã thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với các phương pháp bình phương tối thiểu gộp (pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) và thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp.
Trong phần này, luận văn chủ yếu xem xét ảnh hưởng của các nhân tố nội tại từ phía công ty ảnh hưởng đến cấu trúc vốn, bao gồm: quy mô, lợi nhuận, tài sản cố định, tăng trưởng kinh doanh, thanh khoản, khả năng trả nợ, rủi ro kinh doanh, tấm chắn phi thuế và yếu tố sở hữu nhà nước. Chương 05: Kết luận và kiến nghị. Trong chương này, sau khi thực hiện hồi quy với dữ liệu thu thập và trình bày các kết quả hồi quy, luận văn đưa ra kết luận của nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận văn cũng nêu lên một số kiến nghị, những hạn chế của đề tài và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH 2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn của công ty 2.1 Khái niệm công ty phi tài chính 2.1 Công ty Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu, tìm hiểu về công ty, pháp luật các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các khái niệm khác nhau. Tại Pháp, công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hợp đồng đó (Ngô Văn Tăng Phước, 2006). Theo luật của bang Georgia tại Mỹ, công ty là một pháp nhân được tạo ra bởi luật định, nhằm một mục đích chung nào đó nhưng có thời hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động được ấn định trong điều lệ (Ngô Văn Tăng Phước, 2006). Tại Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh.” Theo đó, doanh nghiệp được phân loại thành loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty (công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên và công ty cổ phần).
Như vậy có thể thấy, theo quy định của Luật doanh nghiệp, công ty là một khái niệm hẹp hơn so với doanh nghiệp và thật khó để đưa ra khái niệm chung cho tất cả các loại công ty vì sự đa dạng của loại hình liên kết. Mặc dù được mô tả theo nhiều cách khác nhau nhưng nhìn chung mô hình tổ chức công ty đều thể hiện ba đặc trưng cơ bản là: (i) sự liên kết của nhiều chủ thể, (ii) sự 6 liên kết được thực hiện thông qua một sự kiện pháp lý (điều lệ, hợp đồng hoặc quy chế), (iii) nhằm mục đích kiếm lời.2 Công ty phi tài chính Có thể phân loại công ty theo nhiều cách khác nhau: theo tính chất liên kết, chế độ trách nhiệm của thành viên, theo ý chí của cơ quan lập pháp hay lĩnh vực hoạt động. Trong nghiên cứu này, luận văn chỉ nghiên cứu đối với đối tượng là công ty cổ phần phi tài chính. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát ra ngoài thị trường nhằm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế; người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông.
Đồng thời, khái niệm công ty phi tài chính được đề cập trong nghiên cứu này nhằm phân biệt với các tổ chức tài chính (bao gồm ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng như: công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán). Tiêu chí để phân loại công ty phi tài chính và các tổ chức tài chính chủ yếu dựa trên đặc điểm hoạt động. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các tổ chức tài chính là thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ mà thu hút, tập hợp các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi cung ứng cho những nơi có nhu cầu vốn (Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Nhung, 2007).2 Cấu trúc vốn của công ty phi tài chính Cấu trúc vốn thể hiện quan hệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Cấu trúc vốn có quan hệ mật thiết với chính sách tài trợ và các chính sách tài chính của công ty.
Trong một công ty cổ phần, các thành phần cấu phần nên nguồn vốn gồm: Nợ phải trả Nợ phải trả gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Trong đó, nợ ngắn hạn gồm các khoản mục: vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản nộp nhà nước, phải trả người lao động, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản phải trả, phải nộp khác, dự phòng phải trả ngắn hạn,… Nợ dài hạn gồm: vay 7 và nợ dài hạn, phải trả dài hạn người bán, phải trả dài hạn nội bộ, phải trả dài hạn khác, thuế và thu nhập hoãn lại phải trả, dự phòng trợ cấp mất việc làm, dự phòng phải trả dài hạn. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm khoản mục vốn chủ sở hữu và nguồn kinh phí, quỹ khác. Trong đó, vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác của chủ sở hữu, cổ phiếu quỹ, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính,…Nguồn kinh phí, quỹ khác bao gồm quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn kinh phí đã hình thành nên tài sản cố định,… Đối với các tổ chức tài chính, do hoạt động chủ yếu và thường xuyên là huy động vốn nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền kinh tế nên thông thường, khoản mục vốn chủ sở hữu sẽ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn; thay vào đó, các khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn sẽ là: tiền gửi của khách hàng đối với các tổ chức tín dụng, phải trả người bán và dự phòng nghiệp vụ đối với công ty bảo hiểm (cụ thể là các khoản phải trả về hợp đồng bảo hiểm và dự phòng phí bảo hiểm), phải trả về hoạt động giao dịch chứng khoán đối với công ty chứng khoán (cụ thể là các khoản tiền gửi thanh toán của nhà đầu tư).
Trong khi đó, đối với các công ty phi tài chính, khoản nợ phải trả của công ty chủ yếu là nợ vay ngân hàng và các khoản phải trả người bán (tín dụng thương mại). Tóm lại, sự khác nhau về cấu trúc vốn của công ty phi tài chính so với các tổ chức tài chính xuất phát từ bản chất của các cấu phần hình thành nên nguồn vốn: trong khi ở công ty phi tài chính thì nợ phải trả chủ yếu là tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại thì tại các tổ chức tài chính chủ yếu là các nguồn vốn huy động từ các khách hàng, thông qua các dịch vụ tài chính – tiền tệ mà cung ứng nguồn vốn này cho nền kinh tế.3 Các chỉ số đại diện cho cấu trúc vốn Để phản ánh cấu trúc vốn của một công ty, các chỉ tiêu chủ yếu sau thường được sử dụng: 8 ợ ả ả ỷ ố ợ ổ ả ợ ả ả ệ ố ợ ố ủ ở ữ ố ủ ở ữ Ngoài ra, để phản ánh chi tiết hơn cấu trúc vốn của công ty, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu như: tỷ số nợ ngắn hạn (tỷ lệ giữa nợ ngắn hạn và tổng tài sản), tỷ số nợ dài hạn (tỷ lệ giữa nợ dài hạn và tổng tài sản), tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu (tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu của công ty).2 Lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn Đại diện cho quan điểm này là Durand, Warteman và Scharwts.