PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Có những cơ duyên khởi đầu một nghiên cứu không xuất phát từ số liệu hay tính có vấn đề đƣợc nêu từ những báo cáo khoa học, mà đôi lúc cơ duyên ấy lại khởi đầu bằng câu chuyện và hành trình của chính mình. Tôi cũng là một ngƣời nghiên cứu trẻ trong lĩnh vực giới. Tuy tôi đã từng tham gia vào một số nghiên cứu về cộng đồng LGBTIQ+ nhƣng chƣa bao giờ tôi nghĩ rằng chính mình sẽ bắt tay vào việc nghiên cứu cộng đồng này, cụ thể là ngƣời chuyển giới.
Đặc biệt hơn nữa, đó còn là việc nghiên cứu trên câu chuyện của chính mình. Tôi đã từng không thể đối diện với những ngƣời chuyển giới khác, vì phần lớn hình ảnh ngƣời chuyển giới đang hiện diện trong tâm trí tôi từ bé là những hình ảnh sôi động, ồn ào, thƣờng đƣợc chú ý. Trong khi tôi chỉ muốn sống và làm việc nhƣ bao ngƣời khác kể cả không cần sự quan tâm đặc biệt nào dành cho cộng đồng LGBTIQ+ nhƣ hiện nay. Điều này có nghĩa, tôi đã rất khó khăn để có thể đối diện và vƣợt qua chính bản thân mình khi bắt đầu cuộc nghiên cứu này.
Tôi chỉ bắt đầu hứng thú với việc tự nghiên cứu về ngƣời chuyển giới từ khi chính mình bắt đầu thực hiện kế hoạch chuyển đổi giới tính. Bởi vì trong lúc này, tôi khao khát hơn bao giờ hết muốn giành lấy sự yêu thƣơng mà từ trƣớc đến nay luôn xa xỉ đối với tôi và cộng đồng ngƣời chuyển giới. Tôi muốn tự mình ghi lại tất cả những sự kiện đã trải qua trong cuộc đời để góp thêm một cách nhìn từ ngƣời trong cuộc, một tiếng nói không cần đƣợc biện hộ bởi một lực lƣợng nào khác. Từ đó có thể thảo luận lại với những định kiến xã hội dành cho ngƣời chuyển giới đang tồn tại.
Tôi đã từng rất đồng cảm với cô gái chuyển giới trong một bộ phim truyền hình Thái Lan khi cô ấy đã phải đánh đổi cả cuộc đời để chờ đợi và đối diện với ngƣời mình yêu thƣơng. Một tình yêu phải có đƣợc bằng tất cả sự đấu tranh, nhƣng cô luôn ở trong một tâm thế sẽ mất đi mãi mãi tình yêu đó nếu có ai chứng minh đƣợc cô ấy là ngƣời chuyển giới. Tôi đã nhìn thấy ngay câu chuyện của mình hiện lên sau đó. Nếu là ngƣời chuyển giới có lẽ sẽ không ít ngƣời đã từng phải trải qua cảm giác đối diện với cái khoảng cách thật ngắn ngủi chỉ bằng một cái với tay để yêu thƣơng nhƣng với hoài không tới.
Một rào cản không đến từ khoảng cách vật lý giữa hai con ngƣời, mà khoảng cách ấy tồn tại một cách vô hình vì “tôi là ngƣời chuyển giới”. Những con 2 ngƣời chƣa thật sự an tâm hay kiêu hãnh để ƣớc vọng cho mình một tình yêu thật sự, nhƣ những tiếng than thở hàng đêm của những cô đào hát “tôi yêu anh rồi nhưng có lấy được anh đâu” chỉ vì “cuộc đời tôi Pê đê”. Riêng cá nhân tôi, mỗi khi có ai đó nhắc đến cụm từ Pê đê thì cảm giác ngƣợng ngùng trong tôi lại xuất hiện, hay có thể nói là bị “giật mình”. Bởi vì, trong xã hội dị tính đã gán vào cụm từ Pê đê quá nhiều sự kỳ thị, phân biệt đối xử khiến ngƣời chuyển giới nhƣ chúng tôi phần lớn phải sống trong áp lực, mặc cảm.
Cụm từ Pê đê nhƣ một vết nhơ mà dù có trải qua hàng ngàn năm nữa cũng không bao giờ có thể gột rửa, mặc cho ngoài kia là những con ngƣời ngày ngày đã và đang cố gắng lau dần, lau mòn bức khảm Pê đê ấy trong đó có cả tôi. Có khi phải đối mặt và phản kháng một cách trực diện với nó rằng “tôi không phải Pê đê”. Nhƣng sự phản kháng ấy liệu có kết thúc và đƣợc đền đáp bằng một sự yêu thƣơng hay hạnh phúc thật sự nhƣ mục đích đang hƣớng tới của những ngƣời chuyển giới. Hôm nay, bằng chính những gì tôi có thể làm đƣợc, từ cơ hội mà dƣờng nhƣ đang dồn về nơi tôi, để thêm một lần nữa nhắc nhớ lại cả quá trình đấu tranh mà trƣớc hết tôi là ngƣời đang trải qua để mƣu cầu hạnh phúc cho mình.
Lịch sử nghiên cứu về ngƣời chuyển giới Những nghiên cứu về ngƣời chuyển giới diễn ra sôi nổi nhất vào những năm 1990 ở Mỹ và Anh. Từ đây những nghiên cứu về ngƣời chuyển giới không còn là một lĩnh vực độc quyền của giới y khoa và tâm lý. Chuyển giới đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu đòi hỏi sự liên kết của rất nhiều ngành khoa học khác nhau từ lịch sử, văn học, nhân học, chính sách, xã hội học, nghiên cứu văn hóa, truyền thông, pháp lý,…Có thể nói, sự phát triển nghiên cứu học thuật về chuyển giới/chuyển đổi giới tính trong giai đoạn này đƣợc đúc kết từ những điều kiện thuận lợi sau: Tiền đề đầu tiên, chính sự bùng nổ của hàng loạt các hoạt động, phong trào chính trị xã hội, sự hình thành của nhiều tổ chức vì tiếng nói, quyền lợi của ngƣời chuyển giới/chuyển đổi giới tính. Ngoài những quỹ, nhóm đƣợc thành lập trƣớc đó nhƣ Quỹ Labyrinth ở New York, FTM International,… những tổ chức mới đƣợc thành lập trong những năm 1990 là một làn sóng mới nhằm chống lại quan điểm xem ngƣời chuyển giới/chuyển đổi giới tính là bệnh hoạn.
Tiêu biểu cho làn sóng này là một số nhóm, tổ chức nhƣ 3 Transgender Nation ở Mỹ, tổ chức Press for Change ở Anh. Trong đó có những tổ chức nhƣ: Transexual Menace và It’s time American đã phát triển vƣợt ra khỏi biên giới của quốc gia, khi hàng loạt ngƣời chuyển giới bị tấn công, sát hại do phân biệt đối xử (Bryant, 2009). Ngoài những thay đổi xã hội rộng lớn từ các phong trào chính trị và sự thay đổi của văn hóa liên quan đến vấn đề phi chuẩn mực về giới, các điều kiện trong học thuật cũng giúp thúc đẩy sự xuất hiện và định hình những gì sẽ trở thành một nghiên cứu mới về chuyển giới. Từ đây, những nghiên cứu liên quan đến các dạng thức giới khác ngoài định chuẩn (Gender variant) vốn giới hạn đặc biệt trong phạm vi nghiên cứu bệnh học của giới y học, tâm lý học, và kế đến là một số nghiên cứu nữ quyền đã bắt đầu cho thấy nhiều hạn chế.
Cụ thể, những quan điểm nữ quyền đã tìm cách loại ngƣời chuyển đổi giới tính từ nam sang nữ ra khỏi phong trào phụ nữ, dựa trên niềm tin rằng họ không phải là một phụ nữ thật sự. Những quan điểm nữ quyền trong giai đoạn này đƣợc xem nhƣ một phát kích khởi nguồn các hoạt động của nhiều phong trào chính trị-xã hội và các nghiên cứu trong giới học thuật. Những nghiên cứu học thuật trong những năm 1990 bắt đầu với các cách tiếp cận mở hơn, cho thấy một sự phản tƣ tích cực đối với những kiến thức đã tồn tại trƣớc đó và có một vai trò rất lớn trong việc đảm bảo sự công bằng cho ngƣời chuyển giới. Đây cũng chính là lý do dẫn đến lĩnh vực nghiên cứu về ngƣời chuyển giới bắt đầu trở thành một lĩnh vực liên ngành cần phải có sự tham gia của nhiều ngành khoa học trong đó có nhân học, xã hội học và văn học,… (Bryant, 2009).
Sự xuất hiện của những nghiên cứu học thuật những năm 1990 nhƣ một làn gió mới phê phán lại hàng loạt những quan điểm bảo thủ, những phác họa tiêu cực đã thống trị trong một thời gian dài của giới y khoa và nữ quyền về những dạng thức giới khác ngoài định chuẩn (Gender variant). Cụ thể, những nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu tập trung xung quanh 3 diễn ngôn chính: Thứ nhất, các nghiên cứu trong những năm 1990 đã có những tranh luận với quan điểm hẹp hòi, kết luận sai lầm trong tâm lý học và y học rằng những dạng thức giới khác ngoài định chuẩn là một bệnh lý. Dƣới góc độ quyền lực sinh học, trƣớc đó những dạng thức giới khác ngoài định chuẩn (Gender variant) thƣờng đƣợc phác họa 4 đầy định kiến là bất thƣờng, bệnh hoạn, lệch lạc, đồi trụy,… Bên cạnh đó, diễn ngôn bệnh lý này còn đƣợc bảo hộ bởi quyền lực của các cơ quan y tế và sức khỏe tâm thần, những dạng thức giới khác so với chuẩn mực nhị nguyên đều đƣợc chuẩn đoán là rối loạn tâm thần, cụ thể là rối loạn nhân dạng giới ở trƣờng hợp ngƣời (muốn) chuyển giới/chuyển đổi giới tính. Sandy Stone (1991, nhƣ trích dẫn ở Bryant, 2009, tr.
850- 851) đã vận dụng những tƣ liệu từ tiểu sử cá nhân, tự thuật để chống lại mô hình y học chỉ dựa trên sự theo dõi hồ sơ bệnh nhân tƣơng đối hạn hẹp. Từ đó, ngƣời chuyển giới đƣợc thể hiện đầy đủ và chân thực hơn sự không đồng nhất của mình. Đồng thời, nghiên cứu của Sandy Stone là một trong những nguồn dữ liệu phê phán tính tập trung quyền lực ở các bác sĩ y học, tâm lý học. Những bác sĩ y học và tâm lý học đã có quá nhiều quyền lực để quyết định lên đời sống của những ngƣời chuyển giới.
Cụ thể họ đã yêu cầu điều trị, can thiệp y tế đối với những chủ thể này. Những nhà nghiên cứu với cách tiếp cận mới hơn về chuyển giới đã đặt ra những câu hỏi về giả thuyết dị tính đƣợc chạy trên mô hình y tế về sự không phù hợp giới tính, bao gồm cả nhu cầu phẫu thuật chuyển đổi để xác định lại giới tính. Họ tiếp tục xem xét một cách rất kỹ lƣỡng về nhu cầu y tế và cho rằng chuyển đổi giới tính sẽ biến mất sau khi vƣợt qua phẫu thuật xác định lại. Chính những lập luận đó đã cho thấy nhu cầu xác định lại giới tính không phải là một dạng rối loạn tâm thần, nhƣ Susan Stryker đã ví von “Ngƣời chuyển giới nhƣ một con quái vật biết nói của nhà khoa học Frankenstein, là minh chứng để đối thoại lại và vƣợt qua cách nhìn của những ngƣời đã tạo ra chúng đó là những bác sĩ y học, tâm lý học” (Bryant, 2009, tr.
Thứ hai, trong giai đoạn 1970 - 1980, những học giả nữ quyền thuộc làn sóng thứ 2 đã phác họa một cách tiêu cực về những ngƣời đƣợc cho là khác thƣờng về giới, đặc biệt là ngƣời chuyển đổi giới tính. Những luồng tƣ tƣởng nữ quyền đặt ra rằng luôn có sự khác biệt thiết yếu giữa nam và nữ và một trong những lý thuyết này đã định nghĩa phụ nữ thông qua việc loại trừ những ngƣời phụ nữ đƣợc xác định là nam (“male - identified” women) bao gồm cả lesbian, chuyển giới nữ (Male to Female) và nhiều dạng thức khác.