Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN LO ÂU TRONG CỘNG DONG LGBT+ 1.1 Tổng quan nghiên cứu về rối loạn lo âu trong cộng đồng LGBT+ 1.1 Các nghiên cứu trên Thế giới Bồi cảnh quan điểm về cộng đồng LGBT+: Trước những năm 1970, Câm nang Chan đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần của Hiệp hội Tâm than Hoa Ky (APA) đã liệt kê đồng tính luyến ái là một “rối loạn nhân cách xã hội”. Các nghiên cứu tiên phong về mức độ phô biến của tình dục đồng giới và sự so sánh tâm lý giữa những người đàn ông dị tính và đồng tính nam đã thúc đây sự thay đổi thái độ từ cộng đồng tâm lý học và thúc đây việc loại bỏ APA đồng tính luyến ái như một rối loạn tâm thần vào năm 1973 (mặc dù tất cả các điều kiện liên quan đến sự hấp dẫn đồng giới đã không được loại bỏ cho đến năm 1987) [23]. Trong 40 năm qua, diễn ngôn tâm lý về tình dục đồng giới đã chuyền từ hiểu rằng đồng tính luyến ái về bản chất có liên quan đến rối loạn sức khỏe tâm than sang cần thiết hiểu các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe tâm thần của LGBT.
Những năm gần đây đã chứng kiến những cuộc tranh luận tương tự về các chan đoán liên quan đến nhận dạng giới tính hiện vẫn còn trong DSM [23]. Những người thuộc cộng đồng LGBT+ thường gặp các vấn đề tâm lý và rối loạn tâm thần phần lớn xuất phát từ thái độ kỳ thị, thành kiến, phân biệt đối xử từ gia đình và xã hội [24-25]. Giả thiết cho những rối loạn này có thé mô tả bằng thuật ngữ căng thăng của thiểu số (minority stress) [26-27]. Trong nghiên cứu của Meyer và cộng sự [26] trên 741 người đồng tính nam, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra có 3 yếu tố gây căng thăng của thiểu số được khái niệm hóa gồm: một là sự kỳ thị đồng tính trong nội tâm (internalized homophobia) liên quan đến xu hướng của những người đồng tính nam tự có suy nghĩ, thái độ tiêu cực của xã hội về bản thân họ; hai là nhận thấy sự kỳ thị liên quan đến kỳ vọng bị từ chối và phân biệt đối xử; ba là trải nghiệm thực tế về sự phân biệt đối xử và bạo lực.
Việc đối phó với căng thắng trong cộng đồng LGBT+ là rất quan trọng thông qua việc nâng cao khả năng thích ứng 12 của bản thân họ. Bên cạnh đó, việc công khai xu hướng tính dục với gia đình và người khác cũng rất có ý nghĩa và tác động đến sức khỏe tinh thần của người đồng tính, song tính. Quá trình nhận dạng và công khai về tính dục của người đồng tính, song tính liên quan chặt chẽ với các biến chuyền về tâm lý, trong đó quá trình này càng thuận lợi, được sự ủng hộ thì sức khỏe tinh thần và lòng tự tôn của bản thân họ càng được nâng cao. Khảo sat của Morris và cộng sự (2001) [21] trên 2401 phụ nữ đồng tính và song tính đã cho thấy những người phụ nữ này học cách đối phó và vượt qua những tác động bất lợi của căng thăng tâm lý thông qua việc công khai xu hướng tình dục của mình cùng với sự tham gia cộng đồng những người cùng xu hướng với mình.
Tương tự với nhóm đồng tính nam, việc cá nhân chấp nhận ban sắc đồng tính của một người và chia sẻ được với các thành viên trong gia đình họ cho thấy mối liên hệ tích cực mạnh mẽ nhất với các biện pháp hỗ trợ và những thay đổi trong sự hài lòng về hỗ trợ [22]. Sự hỗ trợ từ gia đình và chấp nhận của bản thân cũng cải thiện các tác động tiêu cực về sức khỏe tinh thần trên các nạn nhân của việc lạm dụng, tây chay đồng tính nam [23]. Việc che giấu bản sắc tính dục của người thuộc cộng đồng LGBT+ có thé đồng thời vừa tạo ra căng thang khi che giấu, vừa bảo vệ khỏi căng thăng của sự phân biệt đối xử vừa khiến một người tách biệt khỏi cộng đồng thiểu số tình dục cũng như các chuân mực va sự hỗ trợ của họ. Các nghiên cứu hiện tại về mối liên hệ giữa việc che giấu khuynh hướng tinh dục và các van dé sức khỏe tâm thần cho thay những mối liên hệ trái ngược nhau - từ tích cực đến tiêu cực đến vô giá trị Năm 2020, Pachankis và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hop (meta-analysis) dé tổng hợp kết quả từ 193 nghiên cứu (n = 92,236) khảo sát mối liên hệ giữa việc che giấu định danh giới tính tiểu số và các vấn đề sức khỏe tâm thần bên trong (như trầm cảm, lo âu, căng thắng, rỗi loạn ăn uống) và bên ngoài (như sử dụng chất gây nghiện).
Kết quả cho thấy có một mối liên hệ nhỏ nhưng tích cực giữa việc che giấu định danh giới tính và các vấn đề sức khỏe tâm thần nội tiết (ESr = 0.151]) và một mối liên hệ nhỏ nhưng tiêu cực giữa việc che giấu và các vấn đề sử dụng chất gây nghiện (ESr = - 0. Mối liên hệ giữa việc che giấu và nội tâm hóa các 13 van đề sức khỏe tâm thần khá chặt chẽ đối với những nghiên cứu đánh giá việc che giấu là thiếu hành vi cởi mở. Các kết quả mở rộng các lý thuyết hiện có về sự kỳ thị và sức khỏe tâm than của nhóm thiêu số giới tính, gợi ý các quá trình căng thắng có thê khác biệt đối với các vấn đề nội tâm hóa so với các vấn đề sử dụng chất gây nghiện, những biến động trong cuộc sống trong trải nghiệm che giấu, trải nghiệm che giấu khác biệt đối với những người lưỡng tính và các khuyến nghị đo lường cho các nghiên cứu trong tương lai [24]. Việc che giấu xu hướng tính dục và che giấu bản thân nói chung có thê làm tăng nguy cơ hình thành các vấn đề về sức khỏe tâm thần của các cá nhân trong cộng động LGBT+.
Việc che giấu/cởi mở xu hướng tình dục còn liên quan các triệu chứng rỗi loạn lo âu, trầm cảm và cho thấy mối quan hệ này đặc trưng cho nỗi ám ảnh xã hội. Nghiên cứu của J. Tuy nhiên, cũng có thể mối quan hệ này đại điện cho một con đường khác. Những người lo âu xã hội có thể ít tiết lộ thông tin cá nhân hơn, chắng hạn như xu hướng tình dục không phải dị tính.
Sự ức chế hành vi, một dấu hiệu đặc trưng của lo âu xã hội, cũng có thé là yéu tố xuất hiện trong lo âu xã hội va trong việc che giấu xu hướng tình dục. Trong thực tế, do sự kỳ thị của xã hội, nhiều người đồng tính đã có thay đổi xu hướng tính dục của mình nhưng không thành công. Tới thời điểm hiện tại, ngày càng có các bằng chứng cho thấy những người đồng tính và song tính nam sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần thường xuyên hơn nhưng người dị tính nam [26-28]. Trầm cảm là một trong những tình trạng sức khỏe tâm thần phố biến nhất được báo cáo trong cộng đồng đồng tinh va song tính nam [29].
Các ước tính trước đây từ một phân tích tổng hợp sử dụng dữ liệu từ hơn 10.000 nam giới cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở nhóm này cao hơn gấp đôi so với nam giới dị tính [30]. Hơn nữa, một nghiên cứu mô hình gần đây sử dụng dữ liệu khảo sát từ Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ lưu hành và gánh nặng bệnh tật của các giai đoạn tram cảm ở cộng đồng nam đồng/song tính đã vượt qua HIV (nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật ở nhóm này) [31]. Bản thân một mối lo ngại về sức khỏe cộng đồng, trầm cảm ở nhóm nam đồng/song tính cũng có liên quan đến việc gia tăng ý muốn tự tử, rối loạn sử dụng chất gây nghiện, hành vi tình dục nguy hiểm và 14 nhiễm HIV cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác [32]. Do đó, đối với nhóm đồng/ song tính nam tiếp cận với dich vu chăm sóc sức khỏe tâm than, các dịch vu này có thể không chỉ là công cụ giúp điều chỉnh các triệu chứng tram cảm mà việc sử dụng chúng còn có thé có mối liên hệ với các tình trạng/hành vi liên quan xa đên các triệu chứng.2 Các nghién cứu trong nước Theo báo cáo của Nguyễn Hữu Anh (2018) [3], trên 100 người đồng tính nam ở Hà Nội ty lệ cao gặp vấn dé lo âu (47%) và tram cảm (36%).
Các yếu tố liên quan tới lo âu và trầm cảm chủ yếu là “tự kỳ thi” va “bị ki thi” và các yếu tố “str dụng chât gây nghiện”, “lo âu” tương quan chặt chẽ với trâm cảm. Nghiên cứu "Thái độ xã hội với người đồng tính" thực hiện năm 2010-2011 (phỏng van định lượng 854 người và phỏng van sâu 31 người ở 4 địa ban là Hà Nội, Hà Nam, TP HCM và An Giang), cho thấy hiểu biết của xã hội về đồng tính còn rất hạn chế. Gần 90% người đang hiểu sai ít hoặc nhiều về người đồng tính và kỳ thị họ. Trên 75% người được hỏi ủng hộ quyền của người đồng tinh, đặc biệt là quyền chung sống và nhận con nuôi.
Tuy nhiên, chỉ có 36% ý kiến ủng hộ cho phép người đồng tính kết hôn [5]. Điều này cho thấy quan điểm xã hội người Việt Nam còn chưa châp nhận với sự xuât hiện của các bản sắc giới “đặc biệt”. Bên cạnh đó, mặt trái của việc tuân thủ những giá trị truyền thống trong gia đình người Việt Nam là sự phân biệt đối xử đối với người đồng tính. Những giá trị này yêu cầu nam giới phải mạnh mẽ, quyết đoán và làm những công việc nặng nhọc; trong khi nữ giới cần phải nhẹ nhàng, yéu đuối, dé thương va làm những công việc nhẹ nhàng.
Khi trưởng thành, theo quy luật tự nhiên, con trai sẽ yêu và cưới con gái, và ngược lại. Những mô hình chuẩn mực này đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, bat kỳ ai có những biểu hiện “không chuẩn” sẽ bị coi là lệch lạc, khác biệt, “bệnh hoạn” và có thê khiến người khác sợ hãi và tránh xa. Sự phân biệt đối xử và kỳ thị từ gia đình và người thân thường rõ ràng hơn.
Vì tình yêu, những 15 người trong gia đình thường sử dụng mọi cách dé ngăn chặn khi biết con mình là người đồng tính: từ lời khuyên, tình cảm ngọt ngào đến những biện pháp mạnh mẽ như cắm ra ngoài, đánh đập, đưa con đến bệnh viện dé chữa bệnh, thậm chí kết hợp đông y va tây y với cúng bái với hy vọng thay đổi giới tính của con.