Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

  • Lý do chọn đề tài: Hôn nhân và gia đình là nền tảng của xã hội; sự ổn định của quan hệ hôn nhân tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của cộng đồng. Nhà nước bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng đồng thời bảo đảm quyền tự do ly hôn khi mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, sau hơn 12 năm áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân cho thấy các quy định về căn cứ ly hôn bộc lộ nhiều bất cập, tiêu chí đánh giá còn mang tính trừu tượng, dẫn đến việc áp dụng thiếu tính thống nhất giữa các cấp tòa án, đặc biệt là trong các trường hợp đương sự mất tích, trốn truy nã, mất năng lực hành vi dân sự hoặc ly thân kéo dài.
  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận chung về căn cứ ly hôn, phân định ranh giới pháp lý giữa căn cứ ly hôn và căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật; khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới (Pháp, Thái Lan, Đài Loan).
    2. Phân tích quá trình phát triển của các quy định về căn cứ ly hôn trong lịch sử pháp luật Việt Nam từ thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1945–2000 cho đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
    3. Đánh giá thực trạng áp dụng quy định về căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân thông qua số liệu thực tế tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011–2012, chỉ ra các vướng mắc tố tụng và nguyên nhân của những tồn tại đó.
    4. Đề xuất các giải pháp lập pháp và định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về căn cứ ly hôn nhằm nâng cao tính khả thi và thống nhất trong hoạt động xét xử.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về căn cứ ly hôn (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành) và thực tiễn xét xử các vụ việc ly hôn tại cơ quan Tòa án.
    • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (các quận, huyện) và Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (các huyện, thị xã).
    • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm trong 02 năm (2011 và 2012), kết hợp các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp hôn nhân từ năm 2005 đến năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý: Nghiên cứu dựa trên học thuyết Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình, trong đó xác định ly hôn là sự ghi nhận một thực tế khách quan khi quan hệ hôn nhân về bản chất đã chấm dứt ("cuộc hôn nhân đã chết"), việc Tòa án cho ly hôn là biên bản công nhận sự tan rã bên trong của quan hệ đó. Khái niệm căn cứ ly hôn được tiếp cận đa chiều dưới góc độ lý luận, góc độ pháp lý và góc độ cá nhân của đương sự.
  • Hệ thống văn bản pháp luật sử dụng:
    • Pháp luật Việt Nam hiện hành tại thời điểm nghiên cứu: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Điều 15, 16, 24, 85, 89); Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 78); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Điều 146, 149, 155, 176, 183, 195, 199); Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 02/2001/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
    • Văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều Hình luật (thời Hậu Lê), sách Hồng Đức Thiện chính thư, Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long năm 1815), Dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936, Sắc lệnh số 97-SL (1950), Sắc lệnh số 159-SL (1950), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 (Điều 26), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 (Điều 40), Nghị quyết số 03/1990/NQ-HĐTP.
    • Pháp luật nước ngoài: Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 229, 232, 233, 234, 237, 238, 242); Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (Điều 1516); Bộ luật Dân sự Đài Loan (Điều 1052).
  • Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp pháp lý; phương pháp so sánh luật học (so sánh lịch sử và so sánh luật học đối chiếu quốc tế); phương pháp thống kê xã hội học pháp lý; phương pháp diễn dịch, quy nạp; phương pháp phân tích bản án, tình huống thực tế.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo thống kê thụ lý và giải quyết án sơ thẩm hôn nhân gia đình của TAND TP. Hồ Chí Minh và TAND tỉnh Vĩnh Long; các tuyển tập bản án, quyết định của TAND các cấp; giáo trình chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Luật Hà Nội; các tài liệu bình luận khoa học pháp lý chuyên khảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Pháp luật về căn cứ ly hôn

Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa chính trị – xã hội của căn cứ ly hôn, đồng thời khảo cứu pháp luật quốc tế và tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam:

  • Khái niệm và ý nghĩa: Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý thể hiện điều kiện do Nhà nước quy định để Tòa án quyết định chấm dứt quan hệ hôn nhân. Quy định này mang ý nghĩa bảo đảm quyền tự do ly hôn chính đáng cho đương sự, giải quyết bế tắc đời sống, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em, ngăn chặn tình trạng ly hôn giả tạo hoặc ly hôn tràn lan, giữ vững trật tự một vợ một chồng tiến bộ.
  • Phân biệt căn cứ ly hôn và căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật:
Tiêu chí phân biệt Căn cứ ly hôn Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật
Đối tượng áp dụng Quan hệ hôn nhân được xác lập hợp pháp nhưng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng Quan hệ nam nữ xác lập vi phạm điều kiện kết hôn (độ tuổi, tự nguyện, điều cấm)
Tình trạng quan hệ Đời sống chung khủng hoảng, mục đích hôn nhân không đạt được Có thể không xảy ra mâu thuẫn trong đời sống chung thực tế
Chủ thể yêu cầu Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng (Điều 85 Luật HN&GĐ 2000) Đương sự hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo luật định (Điều 15)
Thời điểm xác định Tình trạng đời sống chung phát sinh sau khi kết hôn đến khi xin ly hôn Hành vi và điều kiện vi phạm tại thời điểm đăng ký kết hôn
Bản chất pháp lý Giải pháp giải thoát xung đột hôn nhân Biện pháp chế tài của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật
  • Pháp luật một số quốc gia:
    • Cộng hòa Pháp: Phân chia 04 nhóm căn cứ theo Điều 229 BLDS Pháp gồm: thuận tình ly hôn (Điều 232); chấp nhận nguyên tắc chấm dứt hôn nhân (Điều 233, 234); chấm dứt hoàn toàn cuộc sống chung/ly thân từ 02 năm trở lên (Điều 237, 238); ly hôn do lỗi vi phạm nghiêm trọng hoặc nhiều lần nghĩa vụ hôn nhân (Điều 242).
    • Thái Lan: Quy định chi tiết tại Điều 1516 BLDSTM Thái Lan dựa trên 03 nhóm: yếu tố lỗi (ngoại tình, ngược đãi thể xác/tinh thần, vi phạm đạo đức xấu); tình trạng sống chung (bỏ rơi trên 01 năm do bị phạt tù, tự nguyện ly thân trên 03 năm, mất tích trên 03 năm); tình trạng sức khỏe (mất trí liên tục trên 03 năm, bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo không thể chữa khỏi, khiếm khuyết thể chất không thể duy trì sinh hoạt vợ chồng).
    • Đài Loan: Điều 1052 BLDS Đài Loan quy định quyền ly hôn dựa trên yếu tố lỗi (ngoại tình, trùng hôn, ngược đãi, xúc phạm người thân trực hệ, có ý định giết người kia) và tình trạng sức khỏe/biệt tích (bệnh nan y, tâm thần nặng, biệt tích quá 03 năm, bị phạt tù từ 03 năm trở lên).
  • Lịch sử pháp luật Việt Nam:
    • Thời phong kiến: Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, áp dụng quy định "thất xuất" (07 trường hợp chồng được bỏ vợ: không con, dâm đãng, bất kính cha mẹ chồng, bất hòa, trộm cắp, ghen tuông, ác tật) theo sách Hồng Đức Thiện chính thư và Điều 108 Bộ luật Gia Long.
    • Thời Pháp thuộc: Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 xác định ly hôn phải qua Tòa án xét xử và lấy yếu tố "lỗi" làm cơ sở phân chia quyền ly hôn của chồng, vợ hoặc căn cứ chung.
    • Giai đoạn 1945–2000: Sắc lệnh 159-SL (1950) quy định 05 duyên cớ ly hôn dựa trên lỗi; Luật HN&GĐ 1959 tạo bước chuyển biến căn bản khi chuyển từ yếu tố "lỗi" sang đánh giá bản chất quan hệ tại Điều 26; Luật HN&GĐ 1986 tiếp tục kế thừa tại Điều 40.
  • Quy định Luật HN&GĐ năm 2000 (Điều 89):
    • Căn cứ thứ nhất (khoản 1 Điều 89): Tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hướng dẫn tại Mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP cụ thể hóa các biểu hiện như: không còn tình nghĩa, bỏ mặc nghĩa vụ, có hành vi ngược đãi, bạo lực thể xác/tinh thần, ngoại tình dù đã được hòa giải, nhắc nhở nhiều lần.
    • Căn cứ thứ hai (khoản 2 Điều 89): Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 xin ly hôn (biệt tích 02 năm liền trở lên và đã áp dụng đầy đủ biện pháp tìm kiếm).

Chương 2: Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương này đi sâu phân tích số liệu thực tế, các vụ án điển hình, nhận diện vướng mắc và đề xuất các giải pháp lập pháp:

  • Thực tiễn áp dụng căn cứ thực trạng hôn nhân: Thống kê các vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Vĩnh Long trong 02 năm 2011–2012 cho thấy cơ cấu nguyên nhân ly hôn:
Nguyên nhân dẫn đến ly hôn TP. Hồ Chí Minh (2011) TP. Hồ Chí Minh (2012) Tỉnh Vĩnh Long (2011) Tỉnh Vĩnh Long (2012)
Mâu thuẫn gia đình 1.074 vụ 1.148 vụ 96 vụ 311 vụ
Bị đánh đập, ngược đãi 45 vụ 49 vụ 6 vụ 20 vụ
Ngoại tình 34 vụ 37 vụ 30 vụ 16 vụ
Nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc 46 vụ 16 vụ 3 vụ 13 vụ
Mâu thuẫn kinh tế 29 vụ 8 vụ 1 vụ 3 vụ
Bệnh tật, không có con 7 vụ 0 vụ 0 vụ 0 vụ
Một bên mất tích 5 vụ 1 vụ 0 vụ 0 vụ
Nguyên nhân khác 30 vụ 33 vụ 5 vụ 2 vụ

Số liệu phản ánh mâu thuẫn gia đình chiếm tỷ trọng áp đảo (gần 90% tổng số vụ việc). Tình trạng bạo lực gia đình (đánh đập, ngược đãi) có xu hướng gia tăng tại khu vực nông thôn (Vĩnh Long tăng từ 06 vụ lên 20 vụ). Ly hôn do bệnh tật, không có con và mâu thuẫn kinh tế chiếm tỷ lệ rất thấp và giảm dần.

  • Thực tiễn áp dụng căn cứ tuyên bố mất tích:
    • Phân tích vụ án ly hôn giữa nguyên đơn anh Vũ Triệu Phong và bị đơn chị Bùi Thị Nga (TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng): Chị Nga bỏ nhà đi từ năm 2005, có quyết định tuyên bố mất tích ngày 10/11/2011. Khi anh Phong khởi kiện ly hôn, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn sau khi niêm yết tại UBND xã. Tồn tại xung đột giữa việc áp dụng quy định cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 146, 149, 155, 199 BLTTDS với tính chất đương nhiên chấp nhận ly hôn khi đã có phán quyết tuyên bố mất tích.
    • Vướng mắc đối với trường hợp vợ/chồng của người đang trốn lệnh truy nã trên 02 năm: Nhiều Tòa án từ chối thụ lý yêu cầu tuyên bố mất tích vì cho rằng người bị truy nã là đang trốn tránh pháp luật chứ không phải biệt tích tự nhiên, dẫn đến việc người còn lại bị ràng buộc hôn nhân vô thời hạn.
  • Các vấn đề đặc thù phát sinh trong thực tiễn:
    • Vợ chồng ly thân trên thực tế: Phân tích Bản án số 15/2005/HNGĐ-PT giữa ông Trần Kim Ngọc và bà Thạch Thị Sa Vít. Luật không quy định ly thân là căn cứ độc lập, nhưng thời gian ly thân kéo dài (04 năm) không thể hàn gắn được Tòa án sử dụng làm chứng cứ xác thực chứng minh hôn nhân đã trầm trọng.
    • Áp dụng với người theo tôn giáo: Phân tích Bản án số 51/2010/HNGĐ-ST giữa anh Hà Thủy và chị Lê Thị Thu Hà. Dù giáo lý Công giáo quy định tính bất khả phân ly của hôn phối, Tòa án vẫn căn cứ vào sự đổ vỡ thực tế của quan hệ vợ chồng theo quy định pháp luật để chấp nhận ly hôn.
    • Áp dụng với người đang chấp hành án phạt tù: Đương sự trong trại giam gây cản trở tố tụng bằng cách không hợp tác hoặc không nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
    • Áp dụng với người mất năng lực hành vi dân sự do tâm thần: Phân tích vụ việc chị Nguyễn Thị Hồng xin ly hôn tại TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (chồng bị tâm thần). Vướng mắc pháp lý nảy sinh do Điều 24 Luật HN&GĐ 2000 quy định vợ là người giám hộ đương nhiên của chồng mất NLHVDS, trong khi quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân không thể ủy quyền (Điều 85). Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khiến quyền lợi của đương sự rơi vào bế tắc.
  • Nguyên nhân của những bất cập:
    • Khách quan: Hệ thống pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo; tác động tiêu cực của lối sống thực dụng trong quá trình đô thị hóa; năng lực và ý thức trách nhiệm của một số Thẩm phán còn hạn chế khi chỉ dựa vào lời khai hình thức mà không xác minh sâu thực trạng.
    • Chủ quan: Hướng dẫn của TANDTC tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP còn mang tính định tính, chung chung; thiếu quy trình tố tụng riêng cho các chủ thể đặc thù (người mất tích, người bị truy nã, người tâm thần, người chấp hành án tù); Thẩm phán có tâm lý ngại bác đơn dẫn đến xét xử thiếu chặt chẽ.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Cụ thể hóa các tiêu chí xác định "tình trạng trầm trọng", "đời sống chung không thể kéo dài" trong văn bản quy phạm pháp luật.
    • Xây dựng quy định tố tụng đặc thù giải quyết yêu cầu ly hôn đối với người bị truy nã (cho phép ly hôn sau 02 năm trốn truy nã mà không làm mất hiệu lực quyết định truy nã).
    • Bổ sung cơ chế chỉ định người giám hộ/đại diện tố tụng độc lập khi giải quyết ly hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự.
    • Ghi nhận và quy định rõ giá trị pháp lý của thời gian ly thân thực tế như một chứng cứ chứng minh sự đổ vỡ hôn nhân.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Làm rõ cơ cấu nguyên nhân ly hôn thực tế tại 02 địa bàn đại diện (TP. Hồ Chí Minh là đô thị lớn và Vĩnh Long là tỉnh nông thôn ĐBSCL), chỉ ra rằng mâu thuẫn gia đình chiếm xấp xỉ 90% các vụ việc sơ thẩm.
    • Nhận diện và phân tích toàn diện 04 nhóm đối tượng đặc thù gặp bế tắc khi áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000: người mất tích/truy nã, người ly thân thực tế kéo dài, người theo tôn giáo kiêng cữ ly hôn, người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:
    • Hoàn thiện khung pháp lý về căn cứ ly hôn thông qua việc lượng hóa các tiêu chí đánh giá mâu thuẫn gia đình và bạo lực gia đình.
    • Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định tố tụng dân sự: bãi bỏ thủ tục hòa giải bắt buộc đối với trường hợp một bên mất tích hoặc bị truy nã; hoàn thiện cơ chế cử người đại diện tham gia tố tụng cho người mất NLHVDS khi bên vợ/chồng là nguyên đơn khởi kiện.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Hệ thống hóa quá trình phát triển lịch sử của chế định căn cứ ly hôn tại Việt Nam qua các thời kỳ; chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam (dựa trên bản chất quan hệ) với pháp luật các nước Pháp, Thái Lan, Đài Loan (kết hợp yếu tố lỗi và điều kiện sức khỏe, thời gian ly thân); cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc sửa đổi toàn diện Luật Hôn nhân và Gia đình trong giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi khảo sát số liệu thực tế mới giới hạn tại 02 địa phương là TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2011–2012, chưa bao quát được toàn diện thực tiễn xét xử của các vùng miền khác trên cả nước.
    • Nguồn dữ liệu án lệ và bản án tiếp cận chủ yếu thông qua tuyển tập bản án đã xuất bản và cổng thông tin ngành Tòa án, Kiểm sát, chưa tiếp cận được hệ thống hồ sơ lưu trữ nội bộ đầy đủ tại các đơn vị tòa án huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn xét xử tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung để so sánh đặc trưng văn hóa, tập quán vùng miền tác động đến căn cứ ly hôn.
    • Nghiên cứu sâu về chế định pháp lý ly thân (ly thân theo thỏa thuận và ly thân do Tòa án phán quyết) nhằm đề xuất pháp điển hóa chế định này vào hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam.
    • Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tài sản và nhân thân của người mất năng lực hành vi dân sự khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham gia giải quyết các tranh chấp hôn nhân gia đình.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Hệ thống dữ liệu so sánh pháp luật quốc tế (Pháp, Thái Lan, Đài Loan) và bảng đối chiếu căn cứ ly hôn qua các giai đoạn lịch sử phong kiến, thuộc địa, chế độ mới.
    • Bảng thống kê phân loại nguyên nhân ly hôn sơ thẩm thực tế tại TP. Hồ Chí Minh và Vĩnh Long.
    • Phần phân tích án thực tế về xử lý vướng mắc thủ tục đối với bị đơn mất tích (vụ án tại TAND huyện An Dương, Hải Phòng) và người bị tâm thần (vụ việc tại TAND huyện Trần Văn Thời, Cà Mau).

Câu hỏi thường gặp

  • Câu hỏi 1: Căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 gồm những trường hợp nào?
    • Trả lời: Điều 89 Luật HN&GĐ 2000 quy định 02 căn cứ ly hôn: (1) Căn cứ vào thực trạng hôn nhân khi Tòa án xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được (khoản 1); (2) Căn cứ vào quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng mất tích khi người kia có yêu cầu xin ly hôn (khoản 2).
  • Câu hỏi 2: Pháp luật Việt Nam khác biệt như thế nào so với pháp luật Thái Lan và Đài Loan trong việc xác định căn cứ ly hôn?
    • Trả lời: Pháp luật Việt Nam xác định căn cứ ly hôn dựa trên bản chất thực tế của quan hệ hôn nhân (sự đổ vỡ không thể hàn gắn, không xét đến lỗi cá nhân), trong khi pháp luật Thái Lan (Điều 1516 BLDSTM) và Đài Loan (Điều 1052 BLDS) liệt kê chi tiết các hành vi có lỗi cụ thể (ngoại tình, bạo lực, xúc phạm thân tộc, ý định giết người), điều kiện sức khỏe (tâm thần, bệnh nan y) hoặc thời hạn ly thân, biệt tích cụ thể (từ 01 đến 03 năm) để làm phát sinh quyền yêu cầu ly hôn.
  • Câu hỏi 3: Vì sao Tòa án gặp bế tắc khi giải quyết yêu cầu ly hôn của một bên đương sự đối với người chồng/vợ bị mất năng lực hành vi dân sự do tâm thần?
    • Trả lời: Theo Điều 24 Luật HN&GĐ 2000, người vợ là người giám hộ đương nhiên của người chồng bị tâm thần (và ngược lại). Nếu người vợ khởi kiện xin ly hôn, người vợ vừa là nguyên đơn vừa là đại diện cho bị đơn dẫn đến xung đột lợi ích. Mặt khác, quyền xin ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với đương sự (Điều 85) nên người khác không thể thực hiện thay, trong khi người tâm thần không thể tự bày tỏ ý chí, dẫn đến việc Tòa án thường đình chỉ giải quyết vụ án.
  • Câu hỏi 4: Nguyên nhân nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong các vụ việc ly hôn được giải quyết tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Vĩnh Long năm 2011–2012?
    • Trả lời: Mâu thuẫn gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm xấp xỉ 90% tổng số vụ việc giải quyết tại cả hai địa phương (tại TP.HCM: 1.074/1.270 vụ năm 2011 và 1.148/1.290 vụ năm 2012; tại Vĩnh Long: 96/141 vụ năm 2011 và 311/365 vụ năm 2012).
  • Câu hỏi 5: Tác giả đề xuất hướng xử lý như thế nào đối với trường hợp xin ly hôn với người đang trốn lệnh truy nã trên 02 năm?
    • Trả lời: Tác giả đề xuất nên chấp nhận cho vợ hoặc chồng của người đang bị truy nã có quyền xin ly hôn sau 02 năm người đó bỏ trốn biệt tích (dựa trên tinh thần Điều 78 BLDS 2005), đồng thời pháp luật cần quy định rõ việc chấp nhận cho ly hôn không làm ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của quyết định truy nã đối với người đang lẩn trốn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Hồng Cẩm đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và kinh nghiệm quốc tế về chế định căn cứ ly hôn, đồng thời đối chiếu sâu sắc với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Thông qua việc phân tích số liệu thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Vĩnh Long cùng các bản án cụ thể, nghiên cứu đã chỉ rõ những xung đột pháp lý trong việc giải quyết ly hôn với người mất tích, người bị truy nã, người mất năng lực hành vi dân sự và trường hợp ly thân kéo dài. Các đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật và trình tự thủ tục tố tụng trong khóa luận mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học giá trị cho công tác nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam.