CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán 1. Nguyễn Du Người ta đã thấy trong thơ Hồ Xuân Hương nỗi khát khao hạnh phúc của một người phụ nữ tình duyên dang dở, trong thơ Nguyễn Khuyến một ông lão vừa tha thiết với “vườn Bùi chốn cũ” vừa đầy tâm sự thời thế nặng sâu., và cũng không khó để thấy trong thơ Nguyễn Du những dấu ấn tiểu sử đậm nét, bởi giống như đứa con do người mẹ bao ngày thai nghén, tác phẩm dù mang tính độc lập đến đâu cũng không thể tách hoàn toàn khỏi người đã sinh thành ra nó. Cho nên nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Du, ta không thể không tìm hiểu các chi tiết đời tư có ảnh hưởng đến thơ ông.
Chúng có thể được trình bày tường tận trong rất nhiều tài liệu, song ở đây chúng tôi chỉ nhấn mạnh một vài chi tiết có thể ít nhiều liên quan đến cảm nhận thời gian của thi sĩ. Nguyễn Du sống vào khoảng 30 năm cuối thế kỉ XVIII, 20 năm đầu thế kỉ XIX – một thời kì bão táp trong lịch sử dân tộc với những biến thiên khôn lường của thời cuộc. Những cuộc tranh giành quyền bính diễn ra trong phủ chúa Trịnh, sự nổi lên rồi bị dập tắt của đám kiêu binh, sấm sét từ triều đại Tây Sơn rồi ngay sau đó là sự suy tàn của triều đại ấy, sự tiếp nối của nhà Nguyễn, biết bao cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo loạn, li tán liên miên cuốn ông đi như dòng thác cuốn một cánh bèo đơn chiếc. Tưởng như chỉ trong chớp mắt mà đã có bao cuộc tang thương dâu bể diễn ra mà con người lại không thể dự đoán được chiều hướng của nó 8.
Biến động là vậy mà cuối cùng vẫn là một triều đại phong kiến F 7 P P 8 Thời Lê mạt, Nguyễn sơ là một thời kì vô cùng hỗn loạn, khi tất cả các quan hệ rường mối (vua – tôi, quân – thần, phụ - tử…) bị đảo lộn, không còn ý nghĩa. Có thể thấy điều ấy qua đoạn tả cảnh chạy loạn của Lê Chiêu Thống được ghi lại trong Hoàng Lê nhất thống chí: “Hoàng thượng (Lê Chiêu Thống) và Hoàng thái hậu chờ ở bờ sông lâu lắm (sông Như Nguyệt) không thấy có đò, Hoàng thượng liền cho vời Thược (Nguyễn Cảnh Thược trấn thủ Kinh Bắc) đến hỏi, Thược thưa: - Các thuyền đều không ở đây, bệ hạ muốn gấp sang sông, xin hãy cho thần ít nhiều vàng lụa thì mới thuê được. Nếu không dẫu đến sáng mai cũng vẫn ở đây. Giá như quân giặc đuổi đến, thần xin dùng cái chum gỗ để đưa bệ hạ qua sông, chỉ e rằng những đồ ngự dụng không thể giữ được mà thôi.
Hoàng thượng nói: - Trẫm có cả nước cũng không giữ nổi, còn tiếc cái gì? Tức thì ngài sai mở hòm cho xem. Trong đó chỉ có một chiếc truyền quốc ngọc tỉ 40 lạng vàng mà thôi. Ngài bảo Cảnh Thược: - Đấy người muốn lấy gì thì lấy. Thược thưa: - Mong ơn bệ hạ ban cho, thần xin chia lấy một nửa.
nối tiếp trị vì, mọi thứ rồi quay về quỹ đạo cũ, không biết bao giờ kết thúc. Thời gian vừa tuần hoàn lại vừa biến động, con người chẳng thể điềm nhiên nhìn thế sự xoay vần, nhưng càng không thể lay chuyển được gì, chỉ có thể “trông thấy mà đau đớn lòng”. Cuộc đời Nguyễn Du do đó cũng thăng trầm theo thời cuộc. Sống sung túc trong cảnh xa hoa không được bao lâu, ông đã sớm nếm trải cảm giác mất mát của một đứa trẻ mồ côi, một kẻ sĩ bất đắc chí, một hành nhân lưu lạc khắp chốn cùng nơi, một thi nhân thấy chữ nghĩa chẳng ích lợi gì trong thời loạn lạc dù vẫn luôn “vô hạn cảm” 9 với đời.
Có lẽ cũng F 8 P P giống như Kiều, Nguyễn Du cứ mãi đi tìm một chỗ neo đậu trong đời mà kết cục chỉ bị đẩy lăn vào chốn phong trần. Kiều yêu Kim Trọng nhưng lúc nguy biến Kim Trọng không cứu vớt được đời nàng. Mối tình với Từ Hải chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi, còn tình với Thúc Sinh không thể vẹn tròn vì Kiều là kẻ đến sau, dẫu chấp nhận tủi hổ bẽ bàng cũng chẳng được yên thân với duyên thừa phận hẩm. Để rồi cuối cùng cô Kiều truân chuyên hay chính là chàng Nguyễn đa đoan chấp nhận sự tái hợp muộn màng gượng gạo với người tình xưa – mà thực chất đã chẳng như xưa.
Sự trọng dụng của triều đình nhà Nguyễn sau này không đem đến cho Nguyễn Du niềm an ủi hay nhiệt huyết cống hiến. Có lẽ quá mệt mỏi, Nguyễn Du tự khép mình làm một kẻ khờ để tránh sự ghen ghét của hóa công. Đời vừa như mộng vừa như một cuộc đi đày mãi không hết hạn, người vừa nặng lòng với nhân gian vừa chán ghét cảnh thị phi, nhà thơ bơ vơ giữa dòng nhân thế mà khóc mà cười mà than thở. Tiếp thu truyền thống học vấn của gia đình cộng với bao năm trên đường gió bụi, hòa vào đám người tha hương chạy loạn khắp nơi, Nguyễn Du tinh thông cả Nho, Phật, Đạo.
Các nhà Nho đắn đo trước sự trôi chảy của thời gian nhưng chủ yếu quan tâm đến sự hưng vong hay thành bại của các triều đại, thời gian đời người trong mắt họ là thời gian để thực hiện cái tâm, cái chí của bậc quân tử, kẻ trượng phu. Đạo gia lại khuyên con người quay trở về với bản nguyên, tìm giải thoát giữa thiên nhiên, vũ trụ bao la trong cảm giác “vô thời gian” ung dung, tự tại. Phật giáo xem thời gian là bánh xe luân hồi không dứt trong đó đời người chỉ là một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi. Chỉ có vượt qua được cái nhìn nhị nguyên phân biệt: quá khứ - hiện tại, già – trẻ, dài – ngắn.
con người mới được giải thoát. Cái cố Nhưng mà Hoàng thượng cho cả. Thược bèn gọi lái đò đến bến, chở Hoàng thượng và Hoàng hậu sang. Khi thuyền đến bờ, Thược lại cho người đuổi theo lột tấm ngự bào của Hoàng thượng đang mặc.
Ngài ứa nước mắt cởi ra trao cho hắn” (dẫn lại theo Nguyễn Đăng Thục [45, tr. 9 Ý thơ Nguyễn Du trong bài Độ Phú Nông giang cảm tác: Du nhân vô hạn cảm Phương thảo biến thiên nhai chấp với cương thường của nhà Nho 10, cái thiên hướng “vô vi”, muốn giữ thiên tính tự nhiên 9F P P của Đạo và tinh thần từ bi hỉ xả, thương khắp cả chúng sinh đã trộn lẫn thật kì lạ trong một con người theo một công thức mà ta không thể lí giải. Tóm lại, ở Nguyễn Du, người ta thấy một loạt các nghịch lí: sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, quyền thế bậc nhất lúc đương thời, có truyền thống cả về văn chương lẫn khoa cử 11, nhưng Nguyễn Du lại phải sống long đong lận đận, chạy loạn khắp nơi, nhiều khi F 0 1 P P đói không cơm ăn, bệnh không thuốc uống, vào tù ra tội; tuổi trẻ từng khao khát đem tài năng giúp đời giúp nước nhưng vì thời thế nên đành nhìn thanh kiếm mà rơi lệ ; bản tính vốn thanh sạch, chỉ muốn quanh năm làm bạn với làn mây núi Hồng, với người đánh cá, người hái củi, nhưng vì miếng cơm manh áo, Nguyễn Du cho đến bạc đầu vẫn mãi bon chen giữa chốn bụi hồng; là con người nhạy cảm, yêu cái đẹp, vậy mà Nguyễn Du cứ luôn phải chứng kiến những bất công, ngang trái giáng xuống cho người tài hoa. Vốn kiến thức, vốn sống hấp thu được từ quê hương, dòng họ, gia đình cũng như từ bao năm tháng lưu lạc đã khiến ông trở thành một con người trải đời, với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” hiếm có.
Các phức hợp đời tư này sẽ khúc xạ một cách đầy đủ qua các sáng tác Nguyễn Du, đặc biệt là thơ chữ Hán mà vấn đề thời gian không là một ngoại lệ. Từ đó ta hiểu được, những điều được phản ánh trong văn chương của ông đều là các suy tư thấm thía chắt lọc từ cuộc đời, dù buồn hay vui, chúng không bao giờ có hơi hướng giả tạo. Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, được làm trong thời gian từ năm nhà thơ 21 tuổi đến năm 49 tuổi (theo Lê Thước, Trương Chính). Các tập thơ theo sát cuộc đời gian truân, chìm nổi của nhà thơ.
Thanh Hiên thi tập được làm từ thời kì đầu đến trước khi Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn, Nam trung tạp ngâm được viết trong thời gian ông làm quan ở Huế và Quảng Bình, Bắc hành tạp lục là tập thơ ra đời khi nhà thơ đi sứ ở Trung Quốc. Cho đến nay, có khá nhiều bản dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du của các nhà nghiên cứu Hán học: bản dịch của 10 Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Du từng chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp, cũng đã từng có ý định chống lại Tây Sơn hòng “phục quốc” nên bị bắt giam. 11 Đương thời người ta còn lưu truyền câu ca về dòng họ Nguyễn Tiên Điền: Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh (1959) gồm 102 bài, bản dịch của Lê Thước, Trương Chính (1965) gồm 249 bài, bản dịch của Quách Tấn (1973) gồm 92 bài, bản dịch của Đào Duy Anh (1988) gồm 249 bài, bản dịch của nhóm Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến… gồm 250 bài. Ngoài ra còn các bản dịch thơ mang tính ngẫu hứng của những người yêu mến Nguyễn Du như : Trần Văn Nhĩ (2007), Thảo Nguyên (2009).
Có lẽ con số này đến đây vẫn chưa phải đã chấm dứt. Với sức hấp dẫn của chữ Hán Nguyễn Du, ta hoàn toàn có cơ sở tin tưởng trong tương lai, các tác phẩm vẫn sẽ tiếp tục giành được sự quan tâm của người đọc nhiều thế hệ. Về nguồn gốc và đặc điểm thể loại, trong các tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du sử dụng các thể thơ vay mượn từ Trung Quốc, chủ yếu là tứ tuyệt và bát cú Đường luật. Đây đều là những thể loại có quy định chặt chẽ về niêm, luật, vận, đối, số chữ trong câu, số câu trong bài.
Về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về số phận cực khổ long đong của những người dân thường bất hạnh, người tài hoa bạc mệnh và cả những nhân vật mà nhà thơ khi tán thành, khi phê phán trong lịch sử Trung Quốc. Như có một thiết bị thu phát nhạy cảm từ trái tim, Nguyễn Du đặc biệt dễ cảm thông với những khó khăn, vất vả của mọi kiếp người.