CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CẢM THỨC NGƯỜI XA LẠ 1. Cuộc khủng hoảng toàn diện nửa đầu thế kỉ XX Hai cuộc chiến tranh tàn khốc nửa đầu thế kỉ XX đã gây ra những biến động to lớn, những mâu thuẫn, khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trong lòng mỗi chế độ, mỗi xã hội và trong bản thân mỗi cá nhân con người. Một thời đại của nước mắt, đau thương khi mà chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỉ, chiến tranh đã cướp đi hàng trăm triệu sinh mạng. Trong sổ tay của mình, Camus đã ghi lại: “Nurnberg, 60.000 thi hài nằm dưới đống đổ nát.
Người ta cấm không được uống nước. Nhưng ngay cả việc tắm rửa cũng chẳng ai buồn tắm. Nước ở đây như nước nhà xác. Bên trên sự thối rữa này đang diễn ra vụ xét xử” [15, 80].
Đó là hình ảnh một Hiroshima và Nagasaki chỉ trong phút chốc mấy vạn người đã biến thành tro bụi vì bom nguyên tử hạt nhân của Mĩ, tất cả những điều ấy đã bày ra trước mắt người Châu Âu một hình ảnh về chính mình mà mình không còn nhận ra được nữa. Những tín ngưỡng, đạo đức, triết lí, siêu hình, chủ nghĩa…biểu hiện cho một cuộc chinh phục đầy gian nan và nhẫn nại của bao khối óc vĩ đại trải dài trong hàng bao thế kỉ nay đã bị tan biến cùng với những thảm cảnh ấy. Con người Tây phương ngơ ngác đứng sững trước một thế giới rạn vỡ, xa lạ. Một thế giới mà con người tồn tại như những cỗ máy rời rạc nhưng lại thiếu đi người lắp ráp.
Giờ đây con người là nạn nhân của chính con người, của chính những sáng tạo khoa học kỹ thuật, vũ khí quân sự mà con người chế tạo ra. Những mong ước, khát khao một cuộc sống hòa bình, yên ổn của toàn nhân loại bị dập tắt bởi những nhà chính trị chóp bu, bởi những tham vọng bá chủ thế giới. Con người với những tư tưởng kiên định và một niềm tin tươi sáng vào chủ nghĩa duy lý, vào cái mà người ta gọi là văn minh, vào những thể chế, truyền thống, vào những lời hứa hẹn một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái, yêu thương lẫn nhau nay bị vỡ mộng trước thực tại phũ phàng, chưa bao giờ người ta thấy con người hủy diệt lẫn nhau bạo tàn như vậy. Khắp nơi chỉ thấy khói lửa chiến tranh, bệnh tật, nạn đói, vô gia cư, những thây ma khắp mọi nẻo đường, những cảnh loạn li, cướp bóc, lừa đảo…cả một thế giới điêu linh vì những tham vọng chính trị, vì những mưu toan vật chất.
Con người cảm thấy 17 mất niềm tin vào tất cả, hoài nghi tất cả mọi giá trị đã được đặt ra trước đó và lúc nào cũng phải sống trong cảnh nơm nớp lo âu, sợ hãi. “Con người sống trong những lò mổ chiến tranh, sự sống trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Đó là xã hội mà luân lí là do những kẻ chóp bu đặt ra. Xã hội của những nhà thương mại, trong đó đồ vật biến đi thay bằng những kí hiệu.
Rằng một trăm năm nay, chúng ta không hẳn là sống trong một xã hội kim tiền (kim tiền còn khêu gợi được những say đắm nhục thể), mà là một xã hội của những kí hiệu trừu tượng tiền bạc. Một xã hội đặt nền tảng trên những ký hiệu, ngay trong tinh túy của nó, là một xã hội giả tạo, trong đó chân thân của con người đã bị mê hoặc” [31, 44]. Châu Âu như đang rên siết chịu đựng và đứng trước bờ vực tự sát, những sáng tạo khoa học đem đến sự hãi hùng nhiều hơn là niềm hứng thú. Cùng nằm trong hoàn cảnh ấy, nước Pháp với hai lần tham chiến đã rơi vào tình trạng bi đát vô cùng, nhất là trong giai đoạn 1939-1941 phải chịu sự chiếm đóng và tàn sát đẫm máu của phát xít Đức, Pháp chợt nhận ra mình từ một nước đế quốc nay bị hạ xuống hàng “chiếu nhì”.
Nước Pháp bị chia làm hai với sự lũng đoạn của những phe đảng đối nghịch nhau, trong mắt của những kẻ cầm quyền chỉ còn hiện lện sự thù hằn, phản bội lẫn nhau, song thay vì cứu vãn những lí tưởng tốt đẹp sáng ngời đề ra từ cuộc cách mạng tư sản Pháp lừng lẫy năm 1798, giới chính trị Pháp lúc này chán chường, thản nhiên “bỏ rơi” bộ mặt dân chủ tự do đã từng là niềm tự hào trước đó và giao trọn số phận của mình vào tay phát xít Đức – những kẻ đang làm mọi cách để xóa sạch những khát khao, ước mơ tươi đẹp của nhân loại. Người Pháp hơn lúc nào hết cảm thức sâu sắc được rằng số mệnh của họ đã vượt khỏi tầm tay của chính họ và không có một viễn tưởng thênh thang nào mở ra trước mắt của họ cả. Vì thế trong tâm trí của họ lúc này chỉ còn lại chủ nghĩa hoài nghi, họ thích bỡn cợt, trào phúng, ma quái hơn là những lý tưởng, những lời kêu gọi, giao giảng đạo đức. Bên kia trái đất, nước Nhật - đất nước mặt trời mọc luôn coi mình là hậu duệ của nữ thần mặt trời với biểu tượng Thiên Hoàng tối cao, với tinh thần võ sĩ đạo không bao giờ khuất phục từng đặt cho mình sứ mệnh “bảo vệ Châu Á”, tạo nên khối thịnh vượng Đại Đông Á và nhất là có tham vọng tranh giành vị trí bá chủ thế giới với các nước đế quốc phương Tây, đã từng chiến thắng hai nước lớn Trung Quốc và 18 Nga và đang mang trong mình niềm kiêu hãnh vô song thì nay chấp nhận quỳ gối đầu hàng vô điều kiện trước phe Đồng minh và phải chịu sự chiếm đóng của Hoa Kỳ.
Ngày 6/8 và 9/8/1945 Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, nước Nhật rơi vào thảm cảnh đau đớn nhất. Ngày 15/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện, Thiên hoàng Hitohiro nhục nhã xin quy hàng. Trong suốt hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, đất nước Mặt Trời mọc, đất nước của những võ sĩ đạo chưa bao giờ phải hứng chịu những hậu quả nặng nề như thế. Cả nước Nhật tan vỡ như cánh hoa đào gặp trận tuyết đông.
Tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều rơi vào cảnh bi cùng hơn bao giờ hết. Trong suốt chiều dài tồn tại và phát triển của mình, nước Nhật chưa bao giờ phải chịu và cảm thấy tủi nhục đến thế, lòng kiêu hãnh của dân tộc bị bẻ gãy. Ngày15 tháng 8 năm 1945, có lẽ sẽ còn mãi trong kí ức đau thương của người Nhật. Nhật hoàng Hirohito - đấng tôn kính cao nhất, biểu tượng sức mạnh toàn năng của nhân dân Nhật Bản đã xin đầu hàng.
Điều mà mọi người dân Nhật Bản không thể tin nổi và cũng là điều gây sợ hãi, hoang mang nhất đã xảy ra - nước Nhật bại trận. Khắp đất nước lần đầu tiên, người dân nghe tiếng Thiên hoàng rõ và nghiêm trang đến thế: “Sau khi đã suy nghĩ chín chắn về những xu hướng chung của thế giới và về các điều kiện hiện nay của Đế chế chúng ta, Trẫm với tư cách Hoàng đế, quyết định giải quyết tình hình hiện nay bằng một biện pháp không bình thường. Trẫm đã ban lệnh cho chính phủ công bố với bốn nước: Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc và Liên Xô rằng, Trẫm đã chấp nhận lời lẽ trong bản tuyên bố của họ” [34, 17]. Một cảm giác thua cuộc hoàn toàn, thất bại tuyệt đối đã bao trùm lên nước Nhật.
Nhưng cảm giác ấy cũng lại đi kèm với cả những tiếng thở dài thoát nạn: chiến tranh đã chấm dứt. Đã chấm dứt những cuộc không tập khủng khiếp và chấm dứt luôn những đạo quân kinh hoàng. Cuối cùng người Nhật hiểu rằng mình đã bị lừa dối. Nước Nhật giờ đây sống trong những tháng ngày dài đen tối với “những vết thương đóng sẹo”.
Những biến chuyển trong văn học Trước sự khủng hoảng đến tận gốc rễ và toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hộivàtư tưởng ấy, văn học đã có những bước chuyển mình mau lẹ. Nhận thấy đây là “kỉ nguyên mà lí trí phổ biến bị khước từ về mặt tư tưởng và cụ thể […] thì xuất hiện 19 các khía cạnh thứ hai của thực tại: tính phi lí và sự đau khổ của một thế giới mà thực ra nó đã bị tuột khỏi tầm kiểm soát của lí trí, khi lí trí tự khước mình” [4, 132]. Trong cái xã hội phi nhân hóa do tác động của cuộc khủng hoảng tinh thần ấy, các nhà trí thức đã nhận ra một điều phi lí là trong khi sự phát triển của thông tin đại chúng có thể tạo điều kiện cho con người giao tiếp dễ dàng với nhau bao nhiêu thì mối quan hệ giữa con người-con người về đạo lí lại bị gián đoạn bấy nhiêu, các mối quan hệ rơi vào tình cảnh bất khả tương giao khi bộ phận không hợp nhất được với tổng thể, cá nhân không hợp nhất được với tập thể, con người không hợp nhất được với nhân loại. Và nhất là trước những mong ước lí tưởng tốt đẹp của cá nhân, thế giới chỉ đáp lại bằng sự lãnh đạm, dửng dưng.
Nhiều trào lưu văn học có giá trị nhằm nhìn nhận lại những giá trị truyền thống, những lời tuyên xưng từng được xem là tiên chỉ trước đó. Văn học hướng mũi nhọn của mình vào cái nhìn bản thể, biểu thị một nhận thức mới, nghiên cứu bản chất và vị trí của con người trong xã hội cùng với những biến đổi xã hội to lớn. Chưa bao giờ như thời ấy, văn chương có thể tạo ra cho người ta cảm giác nó sẽ phá vỡ hết giới hạn của mọi thứ, nhất là tiểu thuyết là thể loại có thể “nói hết mọi sự trên đời”. Và trào lưu triết học-văn học được xem là giữ vị trí tiên phong lúc đó, ảnh hưởng rộng khắp cả Tây lẫn Đông là Chủ nghĩa hiện sinh – một chủ nghĩa mà “khi tất cả đều biến mất, thì chỉ còn lại có cái sơ đẳng mà chúng ta chìm ngập trong đó là bản năng và những thôi thúc bên trong.
Tiểu thuyết hiện sinh phơi trần ra cả tâm hồn lẫn thể xác mà lòng hăng hái thật sáng suốt. Nó không làm cho tâm hồn và thể xác đẹp hơn hay dễ thương hơn. Chắc chắn một điều là thật hơn thôi. Nó giúp chúng ta nhìn con người đúng hơn đấy”[21, 85].