Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁI NIỆM SABI VÀ CÔ TỊCH TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ THƠ THIỀN THỜI TRẦN (VIỆT NAM) 1. Sabi – cảm thức thẩm mĩ đặc trưng trong thơ Haiku Nhật Bản thời Edo 1. Cội nguồn Sabi trong đời sống tinh thần, thẩm mỹ Nhật Bản Nhật Bản là một dân tộc mà bản sắc văn hóa được cấu thành chủ yếu bởi hai yếu tố: bản sắc dân tộc và sự học tập, chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai. Đời sống văn hóa Nhật Bản thấm đậm tính chất Thiền tông.
Điều này không chỉ thể hiện trong văn học nghệ thuật (đặc biệt trong thơ Haiku) mà cả trong đời sống văn hóa tinh thần của người Nhật từ xưa đến nay. Đặc điểm này góp phần tạo nên nét bản sắc của văn hoá Nhật Bản trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc. Nhưng cho dù chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai đi nữa, dân tộc Nhật Bản vẫn học tập trên tinh thần sáng tạo, chịu ảnh hưởng nhưng vẫn khẳng định bản sắc riêng mà V.Ôtrinicốp đã so sánh rất hình tượng: “Nghệ thuật Nhật Bản giống như đồ uống được nhân dân từ lâu chế ra theo những công thức riêng. Nghệ thuật xưa kia bắt nguồn từ nước láng giềng Trung Hoa dù có hoàn thiện đến thế nào đi nữa thì người Nhật cũng chỉ vay mượn nó như vay mượn cái bình” [55, tr.
Yếu tố Sabi được hình thành vào thời Muromachi (1333- 1600) cũng ra đời trên sự gặp gỡ nhiều “con đường” như thế. Chính yếu tố đơn sơ, mộc mạc thời Muromachi đã đưa cảm thức thẩm mĩ của văn chương dân tộc Nhật Bản từ cái dạt dào của tình đi vào cõi sâu thẳm của tâm, từ cái đẹp trong nỗi buồn tàn phai đến cái đẹp thuần khiết. Trong sự chuyển biến đó, nó tạo ra cuộc hội ngộ giữa cái đẹp và tính giản dị, tự nhiên, cái chất phác, mộc mạc và cái sâu thẳm, kì diệu. Về nguồn gốc, Sabi bắt nguồn từ văn hóa truyền thống của người Nhật, thực chất là yếu tố Thiền tông trong Thiền học.
Năm 552, vua Paekche của Triều Tiên cử một phái đoàn truyền giáo đến Nhật Bản, đánh dấu sự hình thành Phật giáo Thiền tông ở Nhật. Thánh Đức thái tử Shotoku (574-622) – người được xem là sơ tổ của Phật giáo Nhật Bản – đã ban hành một chiếu chỉ rằng toàn dân Nhật Bản phải kính ngưỡng và 13 thọ trì Phật pháp. Ông cũng biên soạn ba bộ kinh rất có giá trị: kinh Pháp Hoa, kinh Thắng Man, kinh Duy Ma Cật. Trải qua các triều đại Nara, Heian, Kamakura, Thiền tông Nhật Bản phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa Nhật Bản.
“Thiền đã ảnh hưởng đến mọi hình thức văn hóa Nhật Bản từ hội họa, kiến trúc, viên nghệ, âm nhạc, diễn kịch. Dưới thời Muromachi, nghệ thuật uống trà, cắm hoa, cơm chay… đã ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của người Nhật. Đó là “văn hóa thiền lâm” mà “văn học thiền lâm” là một bộ phận của nó. Học giả Suzuki Daisetsu là người đã dày công nghiên cứu về ảnh hưởng của Thiền trong sinh hoạt tinh thần và tu dưỡng của người Nhật.
Hai người ngoại quốc (mà Suzuki Daisetsu nhắc đến) cũng đã nhận ra rất sớm điều đó là Sir Charles Elliot, một người có thẩm quyền về lịch sử Phật Giáo Nhật Bản và Sir. George Sansom, chuyên gia về lịch sử và văn hóa sử Nhật Bản” [78]. Đến thời Edo (1600-1868), phong trào “phổ biến Thiền” do các Thiền sư Shido Buman, Bankei Yotaku và Hakuin chủ xướng được phổ biến rộng rãi. Theo nhà nghiên cứu Nhật Chiêu thì “Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của văn hóa Nhật” [10; tr.
Tuy nhiên, với sự chuyển biến của xã hội, đặc biệt là thời Kamakura, tầng lớp võ sĩ samurai dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Con người nhận thức được sự mong manh giữa sống và chết, cả cuộc đời chỉ quyết định trong một nhát kiếm, nên họ cảm nhận sâu sắc nỗi tịch liêu, hoang vắng. Họ đối diện với sự sống và cái chết, nhưng bên trong họ luôn ẩn tàng một sức sống, một tư tưởng vượt thoát. Họ gặp gỡ chính mình trong cảm thức Sabi: “Lột hết mọi lớp vỏ bên ngoài mà tri thức đã khoác lên bao phủ tâm hồn, và cốt nhìn thẳng vào bản chất sâu thẳm của tự thể chúng ta” [69, tr.
Thiền đòi hỏi sự tập trung cao độ đưa tâm tưởng con người vào cái tịch lặng vô biên, chốn hư không, không bị ức chế bởi một điều gì trong tâm trí để giải thoát tâm linh, chất Sabi trong thơ Haiku là sự biểu hiện cái tĩnh lặng trầm lắng, đơn sơ, cô liêu,… “Tịch lặng, trống vắng,… trở thành không gian lí tưởng để trầm tư, tìm đến sự 14 thống nhất – hòa hợp giữa tiểu ngã và đại ngã. Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không; mặt khác, khi đạt đến trạng thái tâm vật hòa làm một, thì con người không còn cảm thấy cô đơn mà chỉ còn một niềm an lạc vô hạn”. “Trước khi trở thành một cảm thức thẩm mĩ – cảm thức thơ ca, Sabi có nguồn gốc từ Thiền: thiền cần tập trung tư tưởng cao độ, đưa tâm tưởng của bản ngã (cái tôi) hòa nhập vào cái tịch lặng vô biên, trống vắng vô hạn […] để giải thoát tâm linh” [27, tr. Không gian tịch lặng, trống vắng là không gian lí tưởng để con người tìm về với chính mình, lắng nghe tiếng vọng từ chính trái tim mình.
Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không. Đến với Sabi, ta có thể tìm thấy một trạng thái lắng đọng đến mức tâm hồn trở thành một tấm gương soi chiếu vạn vật, để thế giới bên trong và thế giới bên ngoài là một, vũ trụ và hạt cát là một. Trong sự hòa điệu đó, bản ngã vắng mặt để rồi lại được tái sinh qua từng nhánh cây, ngọn cỏ, trong giọt sương mai đọng trên cánh triêu nhan, trong bóng trăng mờ ảo soi mình nơi đáy nước. Khi đó, tâm – vật sẽ hòa làm một và con người không còn cảm thấy cô đơn nữa mà chỉ có một niềm an lạc vô hạn.
Hơn nữa, tư tưởng Thần đạo cũng đã ảnh hưởng đến lối sống, nếp sinh hoạt và quan niệm thẩm mĩ, văn hóa của người Nhật. Trong “Tư tưởng thần đạo và xã hội Nhật Bản cận – hiện đại”, Phạm Hồng Thái viết: “Wabi và Sabi là những quan niệm từ lâu đã trở thành tiêu chí thẩm mĩ cho việc thưởng ngoạn cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật, thể hiện rõ nét nhất là trong thơ Haiku, nghệ thuật cắm hoa và trà đạo. Wabi và Sabi là quan niệm tôn trọng sự giản dị, thanh cao, vượt qua những lạc thú vật chất để vươn đến sự cảm thụ vẻ đẹp tinh thần về sự đơn sơ, thuần khiết. Nét thẩm mĩ này có thể mang ảnh hưởng của phong cách Thiền Phật giáo nhưng trong đó không thể phủ nhận được những dấu ấn của quan niệm về sự thuần khiết của Thần đạo” [75; tr.
Thần đạo mang trong mình những nét đặc sắc, mang đậm tính truyền thống và do vậy, nó chính là một yếu tố cấu thành nền văn hoá Nhật Bản. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có lúc tưởng chừng như không đứng dậy được song Thần đạo 15 vẫn luôn đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản. Bên cạnh guồng quay của cuộc sống thường nhật, những toan tính về đời sống vật chất, người Nhật vẫn không quên quay về với tôn giáo truyền thống của mình. Những lễ hội truyền thống quan trọng hay hình thức tổ chức đám cưới,.
theo nghi thức đạo Shinto được duy trì cho đến nay là một minh chứng cho điều ấy. Mặc dù cũng như nhiều tôn giáo khác, Thần đạo vẫn có những hạn chế không tránh khỏi, nhưng nó thực sự ăn sâu, bén rễ trong nền văn hoá của người Nhật Bản, đi vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn của người dân xứ hoa anh đào với những điều răn dạy, những giáo lý cao đẹp. Sabi ẩn chứa trong hầu hết các bộ môn nghệ thuật khác nhau của Nhật Bản. “Sabi xuất hiện trong công tác làm vườn cảnh và trà đạo cũng như trong văn chương” [69, tr.Suzuki cho rằng “Tinh thần này bao gồm những yếu tố như: giản dị, tự nhiên, không câu nệ, tế nhị, tự do, thân thiện nhưng tỏ ra hững hờ kì lạ”.
Một họa phẩm theo lối mặc hội, một lò hương tỏa khói thơm, một bình hoa cắm duy nhất một nhánh hoa hay tiếng nước đang sôi trong ấm, cơn gió nhẹ thổi qua ngọn tùng, những chiếc lá va vào nhau xào xạc, tất cả đều chứa đựng hơi thở của Sabi. Bởi, khi hòa mình vào bầu không khí đó, người ta cảm tưởng như mình đang ngồi đơn độc trong một thảo am sơn dã mà những người bạn tri âm chỉ là một đám mây trắng và tiếng nhạc của ngọn tùng [69, tr. Có lẽ vì thế mà chân dung Basho trên bước đường lãng du luôn được người ta nhớ tới với chiếc áo vân du, hoàn toàn đơn độc, đang ngắm nhìn ngọn Phú sĩ sơn [69, tr. Một lữ khách Xin gọi tên tôi là thế Cơn mưa thu này Đó không phải là cảm giác bị bỏ rơi, không phải là tâm linh nặng trĩu tịch liêu nhưng nó gợi nỗi cô liêu huyền bí của đời sống con người – một lữ khách đơn côi đang đăm chiêu về số phận của đời người: “Tôi cảm thấy cô đơn mỗi khi ngắm trăng, mỗi 16 khi nghĩ về mình và càng thấy cô đơn khi trầm tư về cuộc đời bất hạnh của mình.
Tôi muốn khóc lên về nỗi cô đơn nhưng không ai hỏi tôi vì sao”.192] Về định nghĩa Sabi, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về Sabi. Suzuki gọi Sabi là cảm giác “tịch mịch”: “Tinh thần tịch mịch cũng chính là tinh thần Thiền, nó được thể hiện trong các loại hình nghệ thuật khác nhau… và ngay trong bản thân cuộc sống được gọi là Sabi. Sabi đòi hỏi sự dung dị, tự nhiên, sự khống chế ước, sự tinh tế, sự tự do” (dẫn theo [23, tr.V Ôtrinnicốp trong bài viết Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật thì cho rằng “Sabi là sự không hoàn thiện mang tính chất cổ sơ, là vẻ đẹp của cái cổ, là dấu ấn của thời gian” [55, tr. Thời gian chính là thước đo có giá trị nhất về bản chất của sự vật.
Quan niệm của người Nhật cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó. Họ nhìn thấy vẻ hấp dẫn đặc biệt trong dấu vết của tuổi tác.