Iii | il | | Ê HỒNG MAN - BS. TRAN VAN BINH GS. LÊ HỒNG MẬN - BS. TRAN VAN BINH Cim Nang CHAN NUOIGA NHA XUAT BAN KHOA HOC TY NHIEN VA CONG NGHE Pi nbé dbu TFT rong gân 30 thép ky qua, ngành chăn nuôi gia câm nước fq nói chung uà chăn nuôi gò nói riêng phát triển mạnh.
Nếu năm 1990 tổng đàn gia câm cả nước lò 80 triệu con, năm 2002 là 180 triệu con, dự báo bế hoạch năm 2010 là trên 360 triệu con, trong đó riêng tổng sẵn lượng gò các loại chiếm trên 70%. Từ năm 1990 đến nay, bên cạnh duy trì phát triển các giống gò nội nhu ga Ri, ga Mia, gò Tòu uàng, gà Tây dé. nước ta đã nhập một số gù siêu thit nhu ga AA, Isa, Ross, Lohmann, Avian, Coob, Habbrd., mét sé giống gù siêu trứng (sản lượng trúng cao) như gò Lerghorn, gà Brao-nic, ga Hy-line, ga Isa Brao; mét sé giéng ga kiém dung léng mau thẻ uườn như gà Tam Hoang, ga Luong. Phượng Hoa, gà Sosso, gà Kobir.
Các giống gò này đã thích ứng uới mọi phương thúc chăn nuôi - công nghiệp, bán chan thd, chan thả: trong các doanh nghiệp, trang trợi, nông hộ ở mọi miễn đất nước ta. Muốn chăn nuôi gia câm đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh yêu cầu cung cấp con giống tốt chưa đủ, uì năng suất của giống mới chiếm 40% ma can phải cung cốp thức ăn dinh dưỡng đây đủ - ảnh hưởng 50% năng suốt uà hiểu biết kỹ thuột chăn nuôi, quản lý, uệ sinh phòng bệnh - ảnh hưởng tới 10% năng suốt. Để củng cố uà tăng sự hiểu biết biến thức chdn nuéi gà, góp phân nhỏ bé uào sự thành công hính doanh gò của người chờn nuôi, chúng tôi biên soạn cuốn sách “Cẩm nang chăn nuôi gà” nhằm phổ biến các biến thức chăn nuôi gù ở thế giới, trong nước uò binh nghiệm của bản thân maũng tính phổ thông uễ giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi, ốp trứng, bệnh uà uệ sinh phòng bệnh của gà. Sách xuất bản lồn đâu không tránh khỏi thiếu sót, mong bạn đọc chân thành góp ý để xuất bản lần sau sách được hoàn chỉnh hơn.
Các tác giả Dhan thit nhat GIONG VA CHON TAO GIONG GA |. MOT SO GIỐNG GÀ NỘI Nước ta có nền nông nghiệp lúa nước, cây màu phát triển hàng ngàn năm nay, cũng quãng thời gian lịch sử ấy nhân dân ta đã thuân đưỡng và tạo ra nhiều giống vật nuôi, trong đó có các giống gà với tính năng sản xuất khác nhau, và là nguôn cung cấp sản phẩm thịt trứng rất lớn cho nhân dân. Giống gà Ri (miền Nam gọi là gà Tàu vàng) Gà Ri được nuôi phổ biến nhất ở vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ và Trung Nam Bộ. - Ngoại hình: nhỏ con, chân lùn; gà mái có màu lông vàng rơm (vàng nhạt) chiếm đa số, sau đó là màu lông văn - còn gọi là sọc dưa vì có hai sọc đen ở lưng, điểm đốm đen ở cổ, đầu cánh và chóp đuôi.
Gà trống lông màu vàng xen lẫn màu "man chin", đuôi đen, cườm có ánh tía. Nói chung lông gà Ri qua nhiều năm bị pha tạp nhiều. Chân, mỏ và da màu vàng. Mào cờ (mào đơn) chiếm 95%.
- Tập tính: gà Ri nhỏ thanh, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, kiếm ăn tốt, dễ nuôi, tính đòi ấp cao hơn một số giống gà nội khác. - Tính năng sản xuất: Khả năng cho thịt gà Ri là thấp, do tăng trọng chậm. Tuy vậy gần 4 năm ở Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm, qua chọn lọc, nuôi dưỡng ws trong điều kiện bán chăn thả, khối lượng cơ thể đã được cải tiến: Cụ thể lúc 4 tháng tuổi gà trống trung bình đạt gần 1,7kg, gà mái đạt gần 1,2kg. Thịt gà Ri thơm ngon.
- Khả năng sinh sản: Tuổi dé quả trứng đầu tiên 134 - 1835 ngày. Sản lượng trứng nuôi chăn thả trong dân đạt 80 - 90 quả/mái/năm, còn nuôi bán chăn thả (theo tài liệu Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm, 2001) đạt 123 - 124 quả. Khối lượng trứng 40 - 45g/quả. Đặc biệt tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở cao hơn so với một số giống gà nội khác - đạt xấp xỉ 80%.
Gà Ri ấp và nuôi con khéo. Gà Ri và gà Tàu vàng là giống gà làm nền để lai với các giống gà nội hướng thịt (Đông Tảo, Mía) và gà lông màu nhập nội (Kabir, Lương Phượng), cho con lai thương phẩm tăng trọng nhanh gấp 1,5 lần so với gà Ri thuần, khả năng đẻ trứng cao hon ga Ri. Giống gà Mía Ga Mia là giống gà hướng thịt của Việt Nam, nó là giống gà địa phương của xã Phùng Hưng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây (nay là Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Ga Mia là giống gà duy nhất ít bị pha tạp so với các giống gà nội khác.
Gà trống có màu lông mận chín, cánh và đuôi ánh xanh đen, cổ có lông cườm ánh tía, mào cờ. Gà mái lông trắng xám (gọi là lông lá chuối khô), mào cờ (mào đơn). Nói chung màu lông gà Mía tương đối thuần nhất. Gà tăng trọng nhanh hơn gà Rìi.
Lúc 4 tháng tuổi gà (giết thịt) bình quân con trống đạt 2320g, con mái 1900g. Gà 6 tháng tuổi mới đẻ, lúc đó có con mái đạt trung bình 2400g, con trống đạt 3100g. Sản lượng trứng bình quân 70 quả/mái/năm (theo tài liệu Quỹ gen to bhŒ5 vật nuôi - 2001). Tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở thấp hơn ga Ri, chỉ đạt 70 - 75%.
Giống gà Mía hiện nay được phát triển chủ yếu ở một số nơi như Hà Nội, Hòa Bình, ngoài ra giống gà này đã được nuôi ở Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Định, chủ yếu để lai với một số giống gà nội và nhập nội khác để tạo gà nuôi thịt. Giống gà Đông Tảo Gà Đông Tảo là giống gà địa phương, hướng thịt: có nguồn gốc từ thôn Đông Tảo, xã Cấp Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay nó được phát triển nhiều ở một số địa phương trong tỉnh Hưng Yên, ngoài ra còn được nuôi ở tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam. Gà Đông Tảo có tầm vóc to thô, chân to, cổ ngắn, mào nụ (mào kép), tốc độ mọc lông chậm, gà mái da màu trắng đục, gà trống da bụng, da cổ màu đỏ.
Lông của con trống màu mận chín (màu mã lĩnh) chiếm đa số, con mái có hai màu lông điển hình: lông xám xen kẽ đốm đen, nâu (đân địa phương gọi là lông lá chuối khô) chiếm đa số, lông nõn chuối (màu nõn chuối) chiếm số ít. Nói chung màu lông gà Đông Tảo và gà Mía ít bị pha tạp hơn so với gà Ri. Khả năng sản xuất: Gà thịt (lúc 4 tháng tuổi) có khối lượng trung bình con trống đạt 2500g, con mái đạt 2000g. Gà đẻ lúc 4 tháng tuổi con trống trung bình đạt 4800g, con mái đạt 3500g.
Sản lượng trứng trong 10 tháng đẻ 68 quả/mái. Tỷ lệ có phôi 90%, tỷ lệ nở trứng và ấp 68% (theo tài liệu Quỹ gen vật nuôi - 2001). Gà Đông Tảo thường dùng con trống lai với gà Ri, gà Lương Phượng, gà Kabir. Cho con lai nuôi thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh, lông giống lông gà ta, thịt thơm ngon.
Gà Hồ Gà Hồ là giống gà thịt địa phương. Nó có xuất xứ từ làng Lạc Thổ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đặc điểm giống của con trống theo thành ngữ chọn giống của dân địa phương: Đầu công, mình cốc, cánh vỏ trai, đuôi nơm (hình cái nơm úp cá, để đạp mái dễ), da bụng cổ mau dé; mào xuýt (mào kép - giống mào con xuýt); diều cân (ở giữa); quản ngắn, đùi dài (cho thịt đùi nhiều); chân tròn, ngón tách nhau; da vàng, thịt thơm ngon; mã (lông) lĩnh hay mận chín (giống vỏ mận chín, pha lông đen). Lông gà mái màu lá chuối khô hay màu vỏ nhãn (chiếm số ít), tốc độ mọc lông chậm.
Gà Hồ có thân hình vạm vỡ chắc chắn hơn gà Đông Tảo. Khả năng sản xuất: Khối lượng sống trung bình gà thịt lúc 4 tháng tuổi con trống đạt 2700g. Lúc 6 tháng tuổi (gà mới đẻ) con trống trung bình đạt 3430g; con mái đạt 2730g. Sản lượng trứng thấp - chỉ đạt 60 quả/mái/năm, tỷ lệ nở/trứng ấp 75 - 80%.
Gà Hồ phân bố hẹp, được nuôi chủ yếu quanh huyện Thuận Thành và ngoại thị xã Bắc Ninh (theo tài liệu Hội Chăn nuôi gà Hồ, 1994). Ba giống gà thịt địa phương vừa nêu trên, là những giống gà truyền thống, gắn với lịch sử văn hóa ngày xưa là những giống quý. Hàng năm làng xã thi tổ chức hội thi gà: Những con đạt tiêu chuẩn ngoại hình của giống, to, đẹp mã đều được thưởng. Ngoài việc nuôi kinh tế, dân làng thường chọn gà đẹp, vỗ béo cho to, mổ thịt làm lễ cúng tổ tiên, đình chùa vào những ngày giỗ và lễ hội.
Ga Van Phi Gà Văn Phú là giống gà địa phương kiêm dụng (cho trứng và cho thịt), được thuần dưỡng từ lâu ở xã Văn Phú, xã Sai Ngã, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Đặc điểm ngoại hình: ngoại hình cân đối; chân chì, cao; lông đen pha lẫn trắng ở cuống lông; mào cờ (mào đơn) phát triển. Khối lượng cơ thể ở các giai đoạn thấp hơn gà Đông Tảo, ga Hé, ga Mia. San lượng trứng hiện nay đạt trên dưới 100 quả/năm/mái, khối lượng trứng 50 - 5g.
Tỷ lệ ấp nở thấp - chỉ đạt trên 70%. Giống gà Văn Phú phân bố hẹp - chỉ phát triển chủ yếu một vài địa phương trong tỉnh. Gà Ác Gà Ác được thuần dưỡng phát triển đầu tiên ở các tỉnh Trà Vinh, Long An, Tiền Giang. Đặc điểm ngoại hình: Thân hình nhỏ nhẹ: thịt xương màu đen; lông trắng tuyển, xù như bông; mào cờ phát triển, màu đỏ tím.
Khác với các giống gà khác chân có 5 ngón (ngũ trảo) và có lông chiếm đa số. - Khả năng sản xuất: gà trên 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình trống + mái: 640 - 760g. Tuổi đẻ trứng lần đầu tiên trên dưới 120 ngày; sản lượng trứng 70 - 80 quả/năm/mái; tỷ lệ trứng có phôi 90%, tỷ lệ ấp nở/trứng vào ấp xấp xỉ 64%; khối lượng trứng trên 30g. Gà mái có thể sử dụng tới 2,5 nam.
Ga Ac chủ yếu để hầm với thuốc bắc, hoặc ngâm rượu để béi bổ sức khỏe, và trị bệnh. Giống gà "Ô Kê"' (gà đen) Gà "Ô Kê" được nuôi ở vùng biên giới Việt - Trung như: Bản Mê thuộc huyện Bắc Hà, Lào Cai, một số xã woes của huyện Mường Khương, tỉnh Lai Châu. Đặc điểm ngoại hình: Gà có tầm vóc nhỏ con; có nhiều màu lông khác nhau, nhưng màu đen tuyển chiếm đa số, mào cờ (mào đơn) màu đen nhạt, chân, da, thịt, xương, mê, mỡ màu đen.